JDispatcher::register: Event handler not recognized.

AMOS, NGÔN SỨ CỦA NGƯỜI NGHÈO VÀ NGƯỜI BỊ ÁP BỨC

altNgôn sứ Amos sống vào thế kỷ VIII trước công nguyên, trong vùng sa mạc thuộc Yuđa (ở Têqoa gần Bê-lem), một miền nghèo khó và quê mùa. Đức Chúa đã kêu gọi ông làm ngôn sứ tại Israel (phía Bắc), lúc Jeroboam II đang làm vua (786-746) và ông không sao cưỡng lại được (x. Am 3,8). Amos biết mình không phải là một ngôn sứ chuyên nghiệp, nhưng ông “phải” đi tuyên sấm ở Bethel, nơi có đền thờ chính của vương quốc Israel.

Ngôn sứ Amos hết sức bất bình, phẫn nộ, mạnh mẽ lên án những bất công trong xã hội thời bấy giờ: sống sa đoạ về đạo đức dẫn đến sa đoạ về tôn giáo. Tất cả những sấm ngôn của Amos nhằm chống lại người giàu có nhưng sống bất công, những người có quyền nhưng ra sức áp bức dân nghèo, người vô tội yếu thế. Amos đã nhân danh Thiên Chúa loan báo trước sự trừng phạt của Thiên Chúa sẽ giáng xuống trên những kẻ bất lương: “Chẳng bao giờ Ta sẽ quên một hành vi nào của chúng”(Am 8, 7).

 

1. Hoàn cảnh chính trị xã hội thời ngôn sứ Amos.

Vào thế kỷ thứ VIII trước công nguyên, sau một cuộc tranh chấp ác liệt, đất Dothái bị chia làm đôi: hai chi tộc phía Nam là Giuđa và Bengiamin làm thành quốc gia Giuđa với Giêrusalem là thủ đô; mười chi tộc còn lại ở phía Bắc lập thành nước Israel với Samaria là thủ phủ.

Dưới triều đại của Jeroboam II (786-746 tcn), vương quốc Ít-ra-en đang ở trong thời hoà bình, thịnh vượng: quân Xyri không còn là mối đe dọa, vương quốc được mở mang vì vua đã chiếm lại phần đất ở bên kia sông Gio-đan (2 V 14,25), đất nước Israel trở nên hưng thịnh và trở nên giàu có. Người ta sống xa hoa phóng túng: xây biệt thự (3,15), trang trí nội thất, ăn nhậu tiệc tùng (6,4-6), buôn bán sầm uất (8,5)...Chính trong bối cảnh đó mà Amos phải lên tiếng báo cho mọi người biết về cảnh nước mất nhà tan sắp đến bởi quân Assyri. Đặc biệt, ông lên tiếng tố cáo những bất công trong xã hội, người giàu lại giàu hơn, còn kẻ nghèo thì bị bóc lột mãi (2,6; 5,12; 8,4).

Ngoài ra, để lôi kéo thêm dân chúng từ các nơi về, và để dân trong nước không đi lên đền thờ Giêrusalem trong các dịp lễ, Jeroboam II và các vua trước ông đã cho lập đền thờ tại Bethel, cách Giêrusalem chừng 14 dặm về phía bắc. Hàng tư tế tại đây được ưu đãi và khuyến khích thi hành những lễ nghi đặc biệt, tạo nên không khí huy hoàng và sầm uất hầu làm lu mờ những hình ảnh sinh hoạt tôn giáo tại Giêrusalem. Đây là một mưu đồ chính trị nhằm tiếp tục việc chia đôi đất nước và phân rẽ một dân tộc mà Giavê Thiên Chúa đã tuyển chọn. Nhưng Giavê không thể làm ngơ trước cảnh tượng đó. Ngài đã “bắt” Amos phải lên tiếng tố cáo căn bệnh suy đồi của xã hội, cũng như “buộc” ông lên tiếng vì sự lăng nhục đến chính vị “Thần” của dân tộc.

2. Sứ điệp của ngôn sứ Amos.

Do sự phồn thịnh mà người ta dễ sinh ra hư đốn: bon chen, tham lam, tranh giành tiền bạc của cải bằng đủ mọi hình thức bất công: giàu hiếp đáp nghèo, dùng tiền mua lương tâm, địa vị. Người giàu chỉ biết ích kỷ hưởng thụ mặc cho dân nghèo đói rách cơ cực...Nhân danh Thiên Chúa, ngôn sứ Amos kịch liệt lên án những cuộc sống sa đoạ bất công trong xã hội, chỉ trích những thói tham lam, lọc lừa và nặng lời kết án những người giàu bất chính, áp bức, khinh dể kẻ nghèo. Ông công kích sự an tâm giả tạo khi người ta lấy lễ nghi tôn giáo để che đậy cho những việc làm xấu xa.

Amos đưa ra nhiều lời sấm chống lại việc phụng tự ở Bethel (4,4; 5,18-25). Ông không coi mọi nghi lễ là xấu, nhưng theo ông, nghi lễ không phải là điều cốt yếu của tôn giáo. Amos chú trọng hơn đến công bằng xã hội. Ngôn sứ Amos vẽ ra một bức tranh rất ảm đạm: người cầm quyền thay vì chăm lo thì lại lạm dụng tha nhân. Theo Amos, đó là một tội đại bất công và Chúa thề sẽ không bao giờ quên việc làm sai trái đó.

Amos cho rằng: nghi lễ đích thực phải dẫn đến công bằng. Ngôn sứ Amos chống đối nghi lễ phụng tự mà thiếu đi sự công bằng, nếu không thực thi sự công bằng trong đời sống hằng ngày thì việc phụng tự chỉ làm Thiên Chúa nổi giận. Nhưng phụng tự hoành tráng của Israel làm cho giai cấp lãnh đạo thêm tự mãn và họ chẳng để tâm gì đến cảnh túng thiếu của người nghèo. Các lễ hội tổ chức trên sự bần cùng của người nghèo, hành hạ kẻ khó. Khi ngày đại lễ kết thúc, người ta lại tiếp tục chuyện buôn bán lọc lừa: cân thiếu, bán gian, giá cao, bàn cân sai lệch (x. Am 8,5-6).

Thấm thía kinh nghiệm trường đời, tác giả sách ngôn sứ Amos đã mạnh mẽ lên án những người giàu có coi trọng tiền bạc hơn phẩm giá con người. Họ coi con người chỉ ngang giá với một đôi dép(Am 8,6). Những dịp lễ tết được họ nóng lòng trông đợi để có cơ hội kinh doanh buôn bán. Chỉ vì tiền, những người này đã quên cả lương tri con người, họ khép chặt tấm lòng trước nỗi sầu thương của đồng loại.

Từ một nếp sống bình dị nơi thôn dã, Amos đã thấy mình đứng trước một xã hội buôn bán tấp nập. Không phải ông không muốn thích nghi với đời sống mới, nhưng con mắt của người được Chúa chọn nhận ra ngay những nguy hiểm của nếp sống chạy theo tiền bạc. Người ta cạnh tranh lừa đảo, bóc lột nhau để mà làm giàu. Sự phồn thịnh sẽ vô ích nếu công lý và đức nghĩa bị lãng quên. Ngay vào thời cực thịnh dưới triều Jeroboam II qua cái vẻ hào nhoáng ấy, Amos đã nhìn thấy những hậu quả bi đát sắp xảy tới, nhận ra căn bệnh suy đồi của xã hội. Xã hội Israel đã ra thối nát và khoái cảm, vì những bất công áp bức trên hạng lê dân nghèo khó. Như thế Amos đã lôi người ta ra khỏi cảnh an toàn giả tạo và bắt người giàu phải nhìn thấy những người cùng khổ do họ gây ra. Dĩ nhiên giới lãnh đạo và hạng phú hào không ưa và tìm cách ngăn cản ông.

Nhìn chung nếp sống của hạng người giàu có, sống đầy đủ trong xã hội lại là giai cấp chiếm ưu thế và được biệt đãi nhiều. Cách ăn uống, giải trí, tế lễ (x. Am 6,4-6)… không thể chấp nhận nơi dân Dothái. Nếp sống này rõ ràng lai căng vì bắt chước người Hylạp, dân ngoại. Nó chứng tỏ lớp người đứng đầu dân đã mất tinh thần dân tộc. Và đối với Amos, như vậy là mất tất cả tinh thần đạo đức. Theo Amos, lối sống không chính đáng của họ chính là thờ ngẫu tượng, tuy họ vẫn tôn thờ Giavê nhưng thờ một cách bất chính. Đời sống đạo của họ bây giờ là nếp sống ươn ái trong chè chén nhậu nhẹt.

Ngôn sứ Amos đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ những ai làm giàu cách gian tham bất chính, bóc lột anh em đồng loại, chà đạp sự công chính và kết án đời sống sa hoa phung phí của hạng người giàu có...Tất cả những sự việc bất công sinh ra sự bất bình đẳng trong đời sống xã hội: “Các ngươi ngược đãi kẻ yếu hèn, chà đạp người nghèo đói” (Am 4,1-2), và “Khốn cho những ai biến lẽ phải thành ngải đắng và vất bỏ công lý xuống đất đen”. “Tội ác các ngươi nhiều vô số kể, tội lỗi các ngươi nặng tầy trời: nào áp bức người công chính lại đòi quà hối lộ, nào ức hiếp kẻ nghèo hèn tại cửa công” (Am 5,7.10.12-15).

Trước tình trạng xuống cấp về tôn giáo và xã hội như thế, sứ điệp của Amos thật rõ ràng: ông đã tuyên sấm trước rằng nếu không thay đổi nếp sống thì hậu quả tất phải bị lưu đày (Am 6,1a. 4-7), dẫn đầu những kẻ bị lưu đày” (Am, 6, 7). Vì Chúa không chấp nhận việc luật pháp và công lý bị chà đạp, ai gây nên chuyện này sẽ bị phán xét. Amos tiên báo cảnh sụp đổ của Vương quốc phía Bắc vì thiếu đạo đức giao ước. Vì Thiên Chúa không dung thứ những ai lạm dụng những người yếu thế. Sự phát triển giàu có là nguyên do của sự huỷ diệt vì nó xây dựng trên sự bất công bất chính. Điều quan trọng là phải “chê ghét sự dữ và yêu mến sự lành” (Am 5,14 tt), nghĩa là chỉnh đốn hạnh kiểm và thực thi nghiêm chỉnh sự công chính, chỉ có sự thay đổi như vậy mới có thể được Thiên Chúa dủ lòng thương xót (x. Am 5,15tt).

Theo lời Chúa dạy, Amos lên tiếng bênh vực người nghèo. Ông cho hay những kẻ tạo ra sự nghèo khốn nầy sẽ bị phạt (Am 5,7.10-15; Am 6,1.4-8). Vị ngôn sứ của công bằng luôn chống lại sự bất công với những lời lẽ đanh thép: “Hỡi những người đàn áp người cùng khổ, và tiêu diệt người nghèo hèn trong xứ, hãy nghe đây…Thiên Chúa sẽ không bao giờ quên một hành vi nào của những người tham lam gian ác " (Am 8, 4. 7b).

Sau một thời gian ngắn thi hành sứ vụ tại Bethel và Samria, Amos đã bị trục xuất ra khỏi Israel. Quả vậy, khi mà quyền lợi bị đụng chạm, miếng cơm bị đe doạ, người ta khó lòng để yên. Amasia, một tư tế của đền thờ Bethel đã cậy vào uy thế của vua Jeroboam II và nhân danh hàng tư tế của vương quốc miền Bắc để đuổi Amos về lại Giuđa(x. Am 7,10). Ông cho Amos là hạng thầy bói nói mò hòng kiếm miếng cơm (x. Am 7,12). Amasia cấm Amos không được tuyên sấm ở Bethel nữa, vì theo ông, những sứ điệp đó không phù hợp với đường lối chính trị của nhà vua và của vương quốc Israel (Am 7,10).

Nhưng Ngôn sứ Amos không chấp nhận lập luận của Amasia. Ông khiêm nhường nói với vị tư tế bụt thần này rằng ông không làm nghề ngôn sứ, cũng không phải là con của một ngôn sứ. Việc đi loan truyền sứ điệp cũng không phải vì khả năng tự nhiên hay tài đức hơn người, nhưng Giavê Thiên Chúa đã gọi ông và truyền phải đi tuyên sấm cho nhà Israel (x. Am 7, 14-15), cảnh báo cho họ về một tai hoạ khủng khiếp sẽ giáng xuống: quân thù sẽ dày xéo đất nước, tàn sát dân chúng, bắt đi lưu đày những kẻ còn sống sót (Am 7,17). Amos không phải là một diễn giả chuyên nghiệp. Ông là một ngôn sứ nên phải nói những lời của Thiên Chúa chứ không phải nói lời của mình, và phải xuất hiện nơi ông được sai tới. Cũng như các ngôn sứ khác, có thể sứ điệp do ông truyền đạt ra sẽ được nhiều người đón nhận, nhưng cũng không tránh khỏi tình cảnh bị từ khước, xua đuổi, hay giết hại. Dù sao thì người được sai đi vẫn ra đi và không ngừng tiến bước. Không nản lòng. Không thất vọng và không đầu hàng.

 

Kết:

Bất công, đàn áp, dối gạt ở đâu và thời nào cũng có, nhưng vào thời mình, vì nhiệm vụ của mình, Amos đã can đảm tố cáo những bất công trong xã hội nước Israel thời bấy giờ. Amos là một người phê phán xã hội, ông xứng danh là nhà ngôn sứ của sự công bằng, của người nghèo và người bị áp bức. Ông đã trở nên lương tâm của đất nước và cất tiếng nói thay cho những người thấp cổ bé miệng. Bản cáo trạng của ngôn sứ Amos đối với những người quyền thế, giàu sang bất công vẫn luôn vang vọng và có hiệu lực cho mọi thế hệ. Bài học quan trọng mà Amos vẫn còn muốn nhắc nhở chúng ta hôm nay đó là: công bằng xã hội là chuyện của tôn giáo. Lòng đạo đức thật sự được đo lường bằng lối sống ở phố chợ hơn là chỉ ở nhà thờ.

Với tấm gương của ngôn sứ Amos có để lại cho chúng ta suy nghĩ gì không? Đứng trước sự bất công chúng ta phải làm gì? Chúng ta tiếp tay với những người có hành động bất công hay chống lại để bảo vệ công lý?

Là những Kitô hữu, chúng ta hãy theo gương ngôn sứ Amos để can đảm sống và làm chứng cho công lý. Mặc dù hàng ngày chúng ta vẫn “được” chứng kiến nhiều bất công đủ loại và dưới nhiều hình thức, chúng ta có can đảm nói không với nó hoặc có một “động thái” nào hay ít nhất tránh xa nó không? Thực hiện tốt những điều này khuôn mặt của Đức Kitô mỗi ngày mới phản chiếu rõ nơi cuộc đời từng người kitô hữu được.

 

Mai Thi

 


Các bài mới:
Các bài cũ hơn:
&lt&lt Trang trước                    Trang tiếp theo >>

Add comment


Số Người Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1484
mod_vvisit_counterHôm qua3302
mod_vvisit_counterTuần này10608
mod_vvisit_counterTuần trước17700
mod_vvisit_counterTháng này53955
mod_vvisit_counterTháng trước59925
mod_vvisit_counterTất cả1544643

Online (20 minutes ago): 34
Your IP: 54.82.1.136
,
Now is: 2014-04-23 14:18

Ai đang online

Hiện có 291 khách Trực tuyến

Tìm Kiếm