Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 82

Thành viên online : 2

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 79


Hôm nayHôm nay : 6847

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 186003

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 12237230

Trang nhất » Tin Tức » ĐỌC VÀ SUY NGẪM » Bài viết chia sẻ

Ảnh Hưởng Của Giáo Lý Công Giáo Đối Với Vấn Đề Hôn Nhân Gia Đình Ở Việt Nam -

Thứ ba - 29/03/2016 10:39
Ảnh Hưởng Của Giáo Lý Công Giáo Đối Với Vấn Đề Hôn Nhân Gia Đình Ở Việt Nam -

Ảnh Hưởng Của Giáo Lý Công Giáo Đối Với Vấn Đề Hôn Nhân Gia Đình Ở Việt Nam -

TS. Phạm Huy Thông: Ngày 2-11-2015, Viện nghiên cứu Phi châu và Trung Đông có tổ chức cuộc hội thảo::" Sống đạo Công giáo và ảnhhưởng của nó đối với xã hội VN". Hội thảo do GSTS Đỗ Quang Hưng và TS Lê Đức Hạnh chủ trì. Đến dự có nhiều nhà nghiên cứu tại Hà Nội. Tôi có đọc bài tham luận sau:
ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO LÝ CÔNG GIÁO ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM
 
Người tín đồ Công giáo trong cuộc đời theo đạo của mình được thể hiện ra ở nhiều cấp độ: Theo đạo, giữ đạo và sống đạo. Sống đạo bây giờ cũng đòi hỏi những mức độ khác nhau: Sống đạo theo lề luật và sống đạo theo môi trường văn hóa , xã hội. Người Công giáo ở khu vực châu Á được kêu gọi “Sống đạo theo cung cách Á châu” (Ecclesia in Asia, số 10), còn người Công giáo Việt Nam được mời gọi: “Sống đạo theo cung cách Việt Nam” (Thư chung 2003, số 9). Chính sự sống đạo này làm thay đổi diện mạo đạo Công giáo và cũng ảnh hưởng sâu rộng tới văn hóa xã hội của nhiều quốc gia. Chúng ta hãy cùng nghiên cứu sự ảnh hưởng của giáo lý Công giáo đến vấn đề hôn nhân và gia đình ở Việt Nam.
 
1 - Giáo lý Công giáo về hôn nhân và gia đình
 
Hôn nhân là một vấn đề quan trọng đối với giáo hội Công giáo nên đã được nâng lên thành 1 trong 7 Bí tích thánh. Sách giáo lý viết: “Hôn phối là nhiệm tích do Chúa Giêsu lập để kết hợp hai người tín hữu, một nam, một nữ thành vợ chồng trong tình yêu thương, đồng thời ban ơn cho họ để họ xây dựng gia đình hạnh phúc và sinh sản con cái, góp phần vào công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa và xây dựng gia đình nhân loại mỗi ngày mới tốt đẹp hơn” (1).
 
Bộ Giáo luật năm 1983 dành hẳn một dung lượng rất lớn là đề mục 7 với 111 điều từ điều 1055 đến điều 1165, để quy định về hôn nhân và gia đình, đấy là chưa kể phần tố tụng, tòa án hôn nhân 37 điều từ 1671 đến 1707, trong khi toàn bộ Giáo luật chỉ có 1.752 điều.
 
Quan niệm của Giáo hội Công giáo cho rằng hôn nhân là một ơn gọi nên mang tính chất thánh thiêng. Là ơn gọi như các ơn gọi dâng hiến, tu trì nên người Công giáo không được tránh né mà chỉ có thể đáp : Xin vâng. Theo giáo lý Công giáo thì người Công giáo không được phép trốn kết hôn, tránh sinh con cái và xây dựng một gia đình hạnh phúc (trừ những người được ơn gọi dâng hiến). 
 
Hôn nhân Công giáo là sự kết hợp giữa 1 người nam và 1 người nữ nên không chấp nhận hôn nhân đồng tính cùng giới hay đa thê hoặc đa phu. Giáo hội lên án một số quốc gia cho phép kết hôn giữa những người đồng tính, mặc dù vẫn tôn trọng họ. Vì vậy đã có nhân viên công quyền sẵn sàng đi tù chứ không làm giấy hôn thú cho người đồng tính. Cũng vì không chấp thuận đa thê nên những người gia nhập đạo Công giáo mà có nhiều vợ cũng chỉ được phép chọn một bà vợ trong số đó để sống chung. Hôn nhân Công giáo được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện. Nếu có bất kỳ sự ép buộc hay lừa gạt nào thì hôn nhân đều vô hiệu. Để đảm bảo nguyên tắc này, các linh mục trước khi làm phép cưới phải cẩn thận tra xét đương sự trong tòa giải tội, xem có hoàn toàn tự nguyện không. Nếu phát hiện ra phải dừng việc chứng hôn lại.
 
Một đặc tính nữa của hôn nhân là sự bất khả phân ly. Điều 1056 của Giáo luật viết: “Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly, những đặc tính này có một sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo, vì có tính cách Bí tích”. Điều này có nghĩa là, hôn nhân Công giáo buộc cặp vợ chồng phải sống chung thủy với nhau suốt đời và họ không được phép ly hôn để kết hôn với người khác. Nếu vì lý do đặc biệt, họ không thể sống chung cùng nhau thì chỉ được phép ly thân mà thôi. Giáo lý Công giáo khuyên mọi người sống tiết dục (các bậc tu trì phải khấn khiết tịnh), cả trước, trong và sau hôn nhân để đảm bảo thủy chung suốt đời. Kinh thánh nhiều lần nhắc đến quy luật này. Chính Đức Giêsu khi trả lời những người biệt phái: có được phép ly dị vợ vì bất cứ lý do nào không? Ngài đáp: “Các ông chưa đọc thấy chép rằng: từ đầu, Tạo hóa dựng nên người nam và người nữ. Vì thế, người nam sẽ bỏ cha mẹ, mà quyến luyến vợ mình, và cả hai sẽ thành một thể xác mà thôi. Như thế, không còn là hai thể xác, nhưng là một mà thôi. Vậy điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được phân ly” (Mt 19,6).
 
Về gia đình, giáo hội Công giáo cũng coi gia đình là tế bào của xã hội và là Hội thánh tại gia. Sách giáo lý viết: “Gia đình được định nghĩa là một cộng đồng hiệp thông các ngôi vị, là tổ ấm trong đó mọi người cùng chung với nhau mọi sự, mọi người cùng chung đóng góp, cùng chia sẻ và cùng chung trìu mến thông cảm sâu xa. Sở dĩ gia đình Kitô giáo được gọi là một “Hội thánh tại gia” là vì mỗi gia đình Kitô hữu là một sự bày tỏ và thể hiện niềm hiệp thông trong Hội thánh” (2). Gia đình Công giáo có nhiệm vụ sống theo gương 5 chuyên của cộng đoàn Hội thánh nguyên thủy là chuyên cần giáo lý, vững chí hiệp thông, bền lòng phục vụ, vui thú nguyện cầu và cùng nhau làm chứng. Giáo hội đề cao những cử chỉ âu yếm, thân mật giữa vợ chồng và buộc tội người vợ hay chồng nếu từ chối những cử chỉ đó mà không có lý do chính đáng. Bổn phận của vợ chồng là sinh sản con cái không phải theo mục đích thông thường là nói dõi tông đường mà là cộng tác với Thiên Chúa trong công trình tạo dựng vũ trụ. Hiến chế “Gaudium et Spes” (Vui mừng và Hy vọng) số 50 viết: “Hôn nhân và tình yêu gia đình tự bản tính quy hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái. Con cái là ơn huệ cao quý nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha mẹ…Bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thi hành bổn phận ấy, họ biết rằng mình cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa Tạo Hóa và như trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài” (3). 
 
Trước đây, trong Kinh thánh có nhắc đến lời chúc phúc cho loài người là “Hãy sinh sản cho đầy mặt đất” nên Giáo hội cũng không có giới hạn số con của một cặp vợ chồng và khoảng cách giữa các lần sinh. Nhưng sau này, Giáo hội có hướng dẫn cụ thể cho phù hợp với thời cuộc. Thư chung năm 1992 của các Giám mục Việt Nam viết:
 
Trong tình hình dân số hiện nay của thế giới nói chung và nước ta nói riêng, đối chiếu với tình hình phát triển kinh tế, không thể làm theo phương châm của người xưa “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, phương châm ấy có giá trị trong thời kỳ nông nghiệp “đất rộng người thưa”, ngày nay, loài người đã đầy mặt đất cần phải tính đến việc nuôi sống và giáo dục những mầm non của loài người. Đàng khác, mệnh lệnh sinh sản cho đầy mặt đất gắn liền với mệnh lệnh làm chủ mặt đất. Muốn thế thì đứa con sinh ra phải được nuôi nấng giáo dục nên người. Điều này đưa chúng ta vào những vấn đề cấp bách và nghiêm trọng hiện nay là vấn đề sinh sản có trách nhiệm và vấn đề giáo dục con cái ” (số 11).
 
Giáo hội đưa ra khái niệm “sinh đẻ có trách nhiệm” . Điều này ràng buộc các cặp vợ chồng tự quyết định số lần sinh, khoảng cách giữa các lần sinh chứ không phải ai khác. Họ chịu trách nhiệm điều này trước con cái và trước chính Thiên Chúa. 
 
Để duy trì luật hôn nhân và gia đình, Giáo hội đã quy định chặt chẽ. Buổi đầu, đạo mới đến Thăng Long, lễ tối chỉ dành cho đàn ông, còn đàn bà, phụ nữ đi lễ ban ngày. Trong nhà thờ chia ra “nam tả, nữ hữu” đề không có chuyện trà trộn nam, nữ chỗ đông người hay thiếu sáng. Tiến trình trước hôn nhân như việc học giáo lý hôn nhân và gia đình cho các bạn trẻ chuẩn bị kết hôn, chuẩn bị làm cha mẹ với thời gian khá dài. Điều 1067 giáo luật nêu: “ Hội đồng giám mục phải ấn định những quy tắc về khảo hạch các đôi bạn, cũng như việc rao hôn phối và về những phương thế thích hợp khác để thực hiện những cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy đã được tuân giữ cẩn thận, cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn”. Bởi Giáo hội ý thức rằng, gia đình là tế bào của xã hội thì cũng là cơ sở của Giáo hội. Nếu hôn nhân tan vỡ không chỉ đương sự rơi vào cảnh xa rời Giáo hội mà cả đôi bên nội ngoại, con cái cũng rất dễ mất sự hiệp thông với Giáo hội nữa.
 
2- Ảnh hưởng của lối sống đạo Công giáo đến hôn nhân và gia đình
 
2.1 - Ảnh hưởng trong cộng đồng Công giáo
 
Nếu quan sát bên ngoài, thật khó phân biệt người theo đạo Công giáo và không Công giáo (trừ người tu hành buộc mang y phục dòng) nhưng nếu đi sâu vào tìm hiểu đời sống của họ thì thấy những nét khác biệt lớn. Việc tuân giữ giáo lý, giáo luật Công giáo hình thành nếp sống của người có đạo. Nếp sống này chi phối toàn bộ suy nghĩ, hành động và cả thói quen của họ nữa. Người Công giáo thường sống quây quần trong một khu, một làng ngay cả khi chưa có lệnh phân sáp của triều nhà Nguyễn. Nếu phải di dời đi đâu thì họ giữ nguyên tên làng cũ. Vì vậy có thể thấy tên làng Cầu Cổ, Bùi Chu, Trung Lao…tại vùng đất lấn biển Nghĩa Hưng (Nam Định) hay các xứ Hà Nội, Thái Bình, Bùi Phát, Trà Cổ…tại các tỉnh Đồng Nai, Sài Gòn sau cuộc di cư 1954. Việc co cụm này không chỉ giúp cho họ giữ đạo dễ hơn mà cũng dễ cho con cái khi đến tuổi lớn khôn gặp người có đạo để thành vợ, thành chồng. Tâm sự của các bậc cha mẹ có con trưởng thành thường là “tìm được người có đạo để dễ giữ đạo sau này”. Bởi trước đây, Giáo hội chỉ cho phép kết hôn cùng đạo. Cho nên mới có câu ca ai oán:
 
“Amen, lạy Đức Chúa Trời
Cầu cho bên đạo, bên đời lấy nhau”
 
Chắc chắn, đã có nhiều đôi không lấy được nhau chỉ vì lý do tôn giáo. Trường hợp của vua Bảo Đại được kết hôn với cô Theresa Nguyễn Thị Lan (sau là Nam Phương Hoàng hậu) năm 1934 là trường hợp đặc biệt phải được gia đình nhà gái có thế giá xin tận bên Tòa thánh. Mãi đến khi Công đồng Vatican 2 canh tân mới cho phép kết hôn với người khác đạo. Không phải chỉ ở Huế, mà khắp nơi cộng đồng cả người có đạo và ngoài đạo đều hoan hỉ: 
 
“Quý hồ chàng có lòng thương
Amen mặc thiếp, khói hương mặc chàng”
 
Nhưng với các bậc cha mẹ thì lấy người đồng đạo vẫn hơn, bởi không lo lắng việc đạo nghĩa của con cháu sau này. Đấy là chưa kể thủ tục hôn phối cho người khác đạo cũng mất thời gian và phức tạp mà nếu không kiên trì, khó có thể đi đến kết quả. 
 
Nam nữ người Công giáo trong quan hệ yêu đương bị cấm không được quan hệ trước hôn nhân vì tội “ăn cơm trước kẻng” là tội nặng. Họ nhắc nhở nhau:
 
“Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ
Đôi ta trinh tiết cùng chờ đợi nhau”
 
Vùng Công giáo, khi trai gái yêu nhau, ngoài các thủ tục, nghi lễ phần đời, điều lo lắng nhất của hai bên dòng họ là chuyện thủ tục bên đạo. Phải tìm người làm chứng, phải xác nhận của linh mục nơi cư trú về tình trạng tôn giáo, hôn nhân, phải rao nhiều lần (thường là 3 tuần) cho cộng đồng biết nhằm tránh tình trạng hôn nhân cận huyết, bị ép buộc, hay đương sự không phải là đơn thân…Ai mà biết phải báo lại cho linh mục xứ để dừng chứng hôn. Ai biết mà không trình báo cũng phạm tội nặng. Linh mục chứng hôn phải kiểm tra nhiều lần về giáo lý, về tình trạng hôn nhân, giấy đăng ký kết hôn, thậm chí cả sức khỏe sinh sản rồi mới làm lễ chứng hôn. Ngày làm lễ cưới diễn ra rất trang nghiêm, trước mặt cộng đoàn và gia đình với những nghi thức mà giới trẻ hiện nay ưa thích vì có ý nghĩa. Những lời thề hứa của đôi nam nữ trước linh mục và cộng đoàn là ràng buộc họ suốt đời phải thủy chung với nhau. Một người không phải là tín đồ ngoan đạo lắm như nhà văn Nguyên Hồng vẫn phải tuân giữ. Nhà văn Lê Đại Thanh kể lại:
 
“Có một cô gái đẹp và lãng mạn mê anh vì đã đọc “Những ngày thơ ấu” của anh, nhưng Nguyên Hồng là một núi băng. Phạm Cao Củng, người chuyên viết chuyện kiếm hiệp cho Nhà xuất bản Mai Lĩnh đã rỉ tai Nguyên Hồng:
Phải thương nó. Nó tương tư cậu…
Nguyên Hồng gặp cô gái xin lỗi và nói:
-Tôi là người Công giáo đạo gốc. Tôi lại là người cầm bút viết văn dạy người đạo đức. Tôi không thể lừa dối vợ tôi và làm hại đời cô.
Cô này đã khóc và sau đó đi Nam, rồi lấy chồng trong đó nhưng càng cảm phục Nguyên Hồng hơn”(4).
 
Để giữ giáo luật, nhiều làng Công giáo cổ đã xây dựng hương ước với những quy định chặt chẽ về vấn đề này. Hương ước làng Vĩnh Trị (Nam Định) viết:
“Làng toàn tòng Công giáo chỉ được phép nhất phu nhất phụ thôi. Vậy ai còn vợ cả mà lấy vợ hai thì làng không ăn ngôi với nữa để khỏi làm gương xấu cho kẻ khác…
 
Ai thông dâm với vợ người có đủ chứng cớ thời hương hội lập biên bản phạt người đàn bà 1đ00. Người đàn ông cũng vậy và truất ngôi 5 năm, tái phạm sẽ truất ngôi hẳn. Ai can tội hiếp dâm đàn bà và thông dâm với con gái dưới 16 tuổi; ai thông dâm với người đàn bà đang có tang chồng; anh em họ hàng thông dâm với nhau; con cái thông dâm với cha mẹ thời hương hội lập biên bản phạt 1đ00 và truất ngôi trong làng và hương ẩm hẳn” (5).
 
Hương ước làng Nam An (Hải Phòng) ghi: “Lại dân toàn tòng, theo luật tôn giáo, không được phép lấy vợ lẽ. Ai phạm tội đến cũng như tội thông dâm, nếu có con thì đứa con ấy cũng như ngoại tình. Con ngoại tình, con vợ lẽ là con giai khi đến tuổi nhập bạ thì phải nộp phạt cho làng là 5đ00” (6).
 
Chính vì vậy, số vụ ly hôn nơi người Công giáo không đáng kể. Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao, những năm 1977-1982, mỗi năm trung bình cả nước có 5.672 vụ ly hôn. Nhưng đến năm 1991 tăng lên 22.049 vụ. Năm 1994 tăng lên 34.376 vụ. Năm 1995 là 35.684 vụ. Như vậy mỗi năm số vụ ly hôn đã tăng từ 10-12%. Tại Hà Nội, năm 2005 có 4.100 vụ ra tòa ly dị. 6 tháng đầu năm 2006 có 2.068 đôi ly hôn. Vậy mà tại làng Trung Thành (xã Hải Vân, Nam Định) nơi có 6.000 giáo dân sinh sống suốt 8 năm (1982-2000) chỉ có 2 cặp bỏ nhau. Ở xứ Hạ Hồi (Thanh Trì, Hà Nội) cũng có 1.500 nhân danh Công giáo nhưng từ năm 1945 đến nay chỉ có 2 đôi ly thân. Điều này là quý giá và hấp dẫn của hôn nhân Công giáo.
 
Các gia đình Công giáo được dạy dỗ phải yêu thương nhau nên tình trạng đạo đức ở các thành viên tương đối tốt. Không có tình trạng con cái ngược đãi cha mẹ hay cha mẹ ruồng bỏ con cái. Nếu có xích mích, bất hòa thì cả cộng đồng sẽ đến khuyên bảo và tìm cách giúp đỡ vì mọi người coi đó là nhiệm vụ của mình. Các chức sắc khi thấy trong cộng đồng có nguy cơ tôi phạm cũng lập tức cảnh báo, ngăn chặn như việc uống rượu ở Tây Nguyên hay nạn nghiện ma túy ngày nay. Hồng y Phạm Đình Tụng, trong Thư chung ngày 22-10-1996 đã mời gọi:
 
“ Tôi khẩn thiết kêu gọi mọi người hãy chung tay, góp sức chặn đứng và tẩy sạch tệ nạn này ra khỏi gia đình và làng xóm chúng ta. Tôi đề nghị các Cha rao giảng về tác hại của tệ nạn này để mọi người hiểu rõ. Mỗi xứ họ cần có kế hoạch điều tra và phát hiện kịp thời số người nghiện hút. Các bậc cha mẹ phải thường xuyên theo dõi con em, không để chúng đi lại những nơi có nguy cơ bị lôi cuốn hay giao tiếp với những con nghiện.
 
Đối với những người đã trót nghiện, chúng ta hãy lấy tinh thần bác ái khuyên bảo và làm mọi cách giúp đỡ họ cai nghiện càng sớm càng tốt, nếu không bệnh của họ sẽ lây sang người khác một cách nhanh chóng như vết dầu loang”.
 
Tuy nhiên, giáo lý Công giáo cũng ràng buộc người tín hữu không được dùng các biện pháp tránh thai nhân tạo. Thông điệp Humanae Vitae (Sự sống con người):
 
“Cần phải loại trừ tất cả mọi hành động nhằm mục đích hoặc dùng như phương tiện để làm cho không thể sinh sản được như hành động trước khi giao hợp, hoặc đang lúc giao hợp hoặc trong lúc kết quả tự nhiên của việc giao hợp đang tiến triển. Cần phải loại từ việc trực tiếp vô hiệu hóa khả năng sinh sản nơi người nam hay người nữ, bất cứ tạm thời hay vĩnh viễn” (số 14).
 
Giáo hội chỉ chấp nhận phương pháp tránh thai tự nhiên theo Ogino-Knauss hay Billings. Nhưng đây là phương pháp cũng không đơn giản, đòi hỏi một quyết tâm rất cao vì vậy nhiều đứa bé vẫn được sinh ra và được gọi là “con của Ogino” và cũng là vấn nạn thường xuyên được gửi đến các tờ báo Công giáo hay các linh mục và ở các vùng giáo, đây là vấn đề nan giải cho chính quyền khi thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Chính quyền đã dùng đủ mọi cách như phạt hành chính, không cấp giấy khai sinh, cắt chỉ tiêu thi đua nhưng đối với người Công giáo, luật đạo quan trọng hơn luật đời.
 
Cũng có người Công giáo nhất là công chức liều mạng phá thai, điều hòa kinh nguyệt. Thế là họ bị vạ giết người. Mà tội thì có thể tha chứ vạ rất khó tha và không phải giáo sĩ nào cũng được quyền tha vạ khiến họ và gia đình (những người biết sự vụ này mà không can ngăn hay đồng thuận) phải đau khổ suốt đời vì không còn được hiệp thông với Giáo hội nữa.
 
Một tiêu cực nữa là hôn nhân Công giáo buộc không được ly dị, nhưng có tình trạng vợ chồng không thể sống chung được với nhau nữa. Thế là ly thân và không được phép kết hôn nữa nếu người phối ngẫu với mình vẫn còn sống. Có người chẳng giữ được độc thân, họ đi bước nữa và lập tức bị kết án và không được sống trong ấn sủng của Giáo hội. 
 
Để giảm thiểu những nỗi đau này, Giáo hoàng Phanxicô mới đây đã cho phép mọi linh mục trong năm Thánh Lòng Thương xót Chúa 2016 đều được quyền tha vạ phá thai và cũng đang xem xét đơn gỉan thủ tục tuyên bố tiêu hôn và thông thoáng hơn đối với người ly dị, tái hôn. Trong Tự sắc Misis Judex Duminus Jesus (Chúa Giêsu thẩm phán nhân từ) mới công bố đầu tháng 8-2015 viết:
 
“Vì vai trò làm mẹ, Giáo hội cần thấy có bổn phận, vì sự thiện phải thể hiện sự biện phân thận trọng. Giáo hội biết rõ tình huống người ly dị tái hôn đi ngước lại Bí tích Hôn phối của Kitô giáo. Tuy nhiên, cái nhìn của Giáo hội nên xuất phát từ trái tim người mẹ, là trái tim, nhờ được Chúa Thánh thần sinh động hóa, luôn tìm kiếm điều cứu rỗi người ta…Thật vậy, những người này không hề bị vạ tuyệt thông và tuyệt đối họ không bị đối xử như thế: họ vẫn là thành phần của Giáo hội” (7).
 
2.2- Ảnh hưởng của giáo lý Công giáo với hôn nhân , gia đình ra ngoài xã hội
 
Bị chi phối bởi giáo lý Công giáo nên nhiều tín hữu có lối sống khiến người ngoại đạo cảm phục. Bác sĩ Trần Hữu Ngoạn- Giám đốc trại phong Quy Hòa, người đã trực tiếp tiêm trực khuẩn Hansen vào người để chứng minh rằng, bệnh phong cùi không lây trực tiếp khi tiếp xúc, giúp xóa đi mặc cảm của cả người bệnh và cộng đồng lúc gặp gỡ với nhau. Ông được đề nghị làm hồ sơ để được phong anh hùng lao động và nhận giải Ghandi với số tiền khá lớn nhưng ông từ chối vì cho rằng, mình là Giám đốc, lại là đảng viên nên phục vụ là trách nhiệm, trong khi đó các nữ tu dòng Phaolô ở trại không lương mà họ còn tận tụy hơn ông, nên họ xứng đáng được khen thưởng hơn ông. Ông nói:
 
“Họ chấp nhận cuộc sống khổ hạnh, tự nguyện làm những việc thiện một cách âm thầm để phục vụ những người bất hạnh. Họ không muốn những lời ngợi ca tụng. Cuộc sống của họ tuân theo một nguyên tắc thật đơn giản: bàn tay trái không được biết việc làm của bàn tay phải và ngược lại. Nhiều tấm gương của các nữ tu này được bệnh nhân truyền tụng. Họ kể về soeur Charles Antoine, nguyên là Giám đốc trại có lần đến thăm nơi ăn ở của bệnh nhân, thấy hố xí tắc mà không ai dám dọn. Bà liền thọc tay xuống và moi lên những mảnh giẻ mà họ đã vô ý vứt xuống”(8).
 
Chính vì vậy, sau khi nghỉ hưu, bác sĩ Ngoạn do cảm phục lối sống của các nữ tu mà đã âm thầm trở lại đạo vào năm 2012. Cũng theo giáo huấn của đạo nên người Công giáo cũng có cách ứng xử khác với những người bình thường. Trường hợp Nam Phương hoàng hậu là một ví dụ. Bà đã sinh cho vua Bảo Đại 5 người con nhưng vua quen kiểu sống đế vương phóng túng nên vẫn đi lại với những người phụ nữ khác. Bà sống ly thân với cựu vua nhưng vẫn luôn quan tâm đến nhà vua. Bà viết thư cho cô Lý Lệ Hà- một hoa khôi xứ Bắc đang chung sống với vua với lời lẽ rất tôn trọng chứ không hề ghen tuông. Thư viết: “Chị ở xa Đức Cựu hoàng hàng mấy vạn dặm trường nhưng chị biết em hết sức chăm sóc Cựu hoàng đế ở Hồng Kông. Chị cầu mong lịch sử mai đây không buông Cựu hoàng. Đức Từ cung Thái hậu và chị trọn kiếp nhớ thương em” (9). Có lẽ cảm kích về hành động này của Nam Phương Hoàng hậu mà về cuối đời, Bảo Đại đã gia nhập đạo Công giáo với tên thánh là Jean Robert.
 
Do hôn nhân và gia đình Công giáo có những ưu thế là bền vững trong khi hôn nhân, gia đình bên ngoài xã hội mỏng giòn dễ vỡ nên có một xu hướng là không ít gia đình bên ngoài Công giáo tìm kiếm người Công giáo để kết hôn mặc dù thủ tục để kết hôn với người có đạo khá phiền hà và mất nhiều thời gian phải kiên trì như học hỏi về đạo (lớp tân tòng), học về giáo lý hôn nhân và gia đình (lớp chuẩn bị kết hôn). Đấy là chưa kể đến sự phản đối của gia đình những người trở lại. Giáo sư Nguyễn Khắc Dương, xuất thân từ dòng dõi Nho gia ở Nghệ Tĩnh, đã kể lại việc mình sau khi gia nhập đạo về quê năm 1948 như sau:
 
“ Vừa trông thấy tôi, bà gần như chồm tới và gần như ngã quỵ ôm lấy chân tôi khóc nức nở mà than rằng: Cháu ơi, cô hỏi cháu, cha ông cháu có tội tình chi, mà cháu cúi đầu cho họ dội nước để rửa sạch tội Tổ tông. Thật là nhục mạ đến tổ tiên họ Nguyễn Khắc nhà ta. Chớ cái tội cháu bỏ đạo ông bà, không thờ cúng tổ tiên, thì nói thật, lấy cát chà, dao cạo cũng không sạch, nói gì đến dội nước” (10).
 
Một trường hợp khác mà Giám mục Allys ở Huế đã kể lại, đó là sự phản ứng của gia đình cô Nguyễn Thị Ngọc năm 1916. Ông viết:
 
“Khó mà tưởng tượng được sự tức giận của người cha và sự đau khổ của bà mẹ, khi biết rằng con mình đã bỏ trốn. Họ liền cùng với bạn bè đi tìm con. Trong nhiều ngày, họ chạy hỏi nơi này nơi khác và nhất là rình quanh các tu viện mà họ nghi là có con mình đang lẩn trốn. Cuối cùng, họ được thư của Nguyễn Thị Ngọc cho biết mình đang ở trong dòng kín Huế và sẽ không ra khỏi đó cho đến khi thành Kitô hữu…Trước lời tuyên bố đó, bà mẹ nổi giận, gào thét và đe dọa khi thấy con mình không lay chuyển, bà chồm tới, nắm lấy tóc con lôi ra khỏi nhà khách của đan viện. Để chống lại, Nguyễn Thị Ngọc liền nằm xuống đất và làm cho tất cả mọi nỗ lực của người mẹ nóng giận trở thành vô ích” (11).
 
Số liệu của giáo hội Công giáo cho biết, năm 2006, cả nước có 147.716 người gia nhập đạo thì có 31.576 người lớn xin gia nhập đạo để kết hôn với người Công giáo, chiếm 1/5. Năm 2000 có 30.096 người lớn rửa tội thì đến năm 2010 số xin nhập đạo là 42.272 người. Tại các giáo xứ, nhất là các nhà thờ ở thành phố, do lượng người di dân đi học tập, công tác, lao động từ nông thôn về đông nên liên tục phải mở các lớp tân tòng và số thanh niên theo học rất đông.
 
Giáo lý Công giáo coi phôi thai được hình thành từ sự giao hợp đã là con người nên khi nghe có trường hợp phá thai dù chỉ là điều hòa kinh nguyệt, người Công giáo cũng tìm gặp những bà mẹ lỡ mang thai đó khuyên bảo giữ cái thai lại. Nếu đương sự không có điều kiện, họ đưa về các nhà mở để chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi mẹ tròn, con vuông. Nhiều nhà mở này được lập ra khắp nơi do các giáo xứ, dòng tu tổ chức. Thậm chí một số cá nhân người Công giáo cũng làm như vậy. Nước ta được xếp vào một trong 5 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới với khoảng 300.000 vụ/năm thì những hoạt động trên của người Công giáo rất ý nghĩa. Một số cá nhân người Công giáo còn đi thu gom những thai nhi từ các bệnh viện, phòng khám tư nhân về khâm liệm, chôn cất tử tế như bà Nguyễn Thị Nhiệm (Sóc Sơn, Hà Nội), ông Nguyễn Văn Bao (Nghĩa Thắng, Nam Định), ông Tống Phước Phúc (Nha Trang, Khánh Hòa)… đã chôn cất cả vạn thai nhi được dư luận khen ngợi vì những cử chỉ nhân văn và chỉ riêng đạo Công giáo mới có việc làm này.
 
Giáo hội cảnh báo xã hội ngày nay là “một nền văn hóa sự chết”, chiết tự từ “Death” (D: Divorce- Ly dị; E: Euthanasia- Chết êm dịu; A: Abortion- Phá thai; T: Total Birth Control: Kiểm soát sinh sản; H: Homosexual union- Kết hôn đồng tính). Một đặc điểm của nền văn hóa sự chết đó là phá vỡ cân bằng tự nhiên về giới tính, lao động mà nhiều nước đang đối mặt khi hàng chục triệu thanh niên không thể lấy được vợ, khi mà số sinh ít hơn số tử gây thiếu hụt lao động trầm trọng như Trung Quốc, Đức , Nhật và cả nước ta nữa. Chính những thách đố này, khiến nhiều xã hội phải quay lại sự cân bằng tự nhiên trong sinh sản. Ngay dự thảo luật về dân số nước ta hiện nay cũng cho phép các cặp vợ chồng tự lựa chọn số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Dự thảo này rất giống với quan niệm “sinh sản có trách nhiệm” của Giáo hội Công giáo.
 
Như vậy có thể thấy giáo lý của đạo Công giáo không chỉ ảnh hưởng đến hôn nhân và gia đình cộng đồng Công giáo mà càn ảnh hưởng sang cả cộng đồng xã hội nữa. Mặc dù lối sống đó cũng có những điểm gây khó khăn cho tín hữu nhưng ưu điểm nhiều hơn và là điểm sáng của tôn giáo này. Nó chứng minh nhận định của Nghị quyết 25 “Về công tác tôn giáo” của Đảng năm 2003 là đúng đắn: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”.
 
Hà Nội, tháng 9-2015
TS. Phạm Huy Thông - gửi TNCG
 
Chú thích:
*Phó Trưởng ban Tư duy Tôn giáo, Trung tâm Khoa học Tư duy CTS
1-Bùi Văn Đọc: Sống niềm tin, Giáo xứ Bùi Chu xuất bản 1992, tr.46
2-TGM Nha Trang: Giáo lý vào đời, tập 1, Nxb Tôn giáo 1999, tr.118
3-Thánh Công đồng Vatican 2, Giáo hoàng học viện Đà Lạt ấn hành 1972, tr.82-803.
4-Báo Văn Nghệ số 30 ngày 27-7-1996.
5-Kỷ yếu Tọa đàm “Thờ cúng tổ tiên” ở Huế, TGM Huế ấn hành năm 1998, tr.68
6, 11- Phạm Huy Thông: Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa Việt Nam, Nxb Tôn giáo 2012, tr.81; tr.152
7- Vietcatholic. News ngày 3-8-2015
8-Giám mục Nguyễn Văn Sang: Đối thoại tôn giáo, tập 2, Nxb Tôn giáo 2007, tr.327
9-Lý Nhân Phan Thứ Lang: Vua Bảo Đại- vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, Nxb Đà Nẵng 2004, tr.192
 
 
-------------------------------
 
 
 

Tễu Blog 28/03/2016

 

“Đạo lý của sự loạn và sự mất” (Mênh mông thế sự 30)

 

Tương Lai

Trong lan man suy ngẫm về nhiễu nhương thế sự của chiếu bạc tàn canh, mọi con bạc dù khát nước hay ngậm miệng ăn tiền, đều làm cho tình hình rối như canh hẹ, bỗng nhớ đếnHoàng Lê nhất thống chí. Tác phẩm văn xuôi đầu tiên với quy mô của một sử thi miêu tả lại một giai đoạn của những biến động dữ dội trong 30 năm cuối thế kỷ XVIII, xã hội tanh bành, hệ thống giá trị bị đảo lộn, vua không ra vua, quan không ra quan, nghĩa quân thần “nhạt như nước ốc, bạc như vôidân tình điêu đứng lầm than, “tiền tài hai chữ son khuyên ngược, nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi! (1)

Về quan thì như Nguyễn Cảnh Thước, trấn thủ Kinh Bắc, trắng trợn trấn lột hết “đồ ngự dụng” của vua còn “cho người đuổi theo lột chiếc áo ngự bào vua đang mặc. Vua ứa nước mắt cởi áo ngự bào trao cho chúng…”. Một viên huyện lệnh, để có được tước “Tráng Nghĩa hầu thêm chức Trấn thủ Sơn Tây” đã phủi lời thầy uỷ thác mà nói toẹt ra với chúa Trịnh Tông trong bước đường cùng “Từ xưa đến nay, hưng phế là việc thường, ông cũng không thể tránh khỏi, đừng có làm gì nữa cho nhọc mình” rồi đem nộp Đoan Nam Vương cho quân Tây Sơn. Khi bị Lý Trần Quán quở trách, “Chúa là chúa chung của thiên hạ mà ta lại là thầy anh. Vua tôi là nghĩa lớn, sao anh nỡ làm thế”, y nói ráo hoảnh: “Sợ thầy không bằng sợ giặc, yêu chúa chưa bằng yêu thân mình, tôi không để cho quan lớn làm cho lầm lỡ đâu”.

Về vua, có đoạn sau đây nói về Lê Chiêu Thống chắc nhiều người nhớ: “Nước Nam ta từ khi có đế có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên Tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc”.

Tới nay tức là tới ngày 16 tháng 10, mùa đông năm thứ 58 niên hiệu Càn Long bên Tàu (1792) cách Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) gần ba thế kỷ, chính xác là 276 năm. Vậy nên, mọi so sánh đều khập khiễng cả nên chớ có bóng gió liên hệ vớ vẩn mà phạm huý, tội chém đầu chứ chả chơi. Gợi lại chỉ để nói đến một chi tiết mà các tác giả của Hoàng Lê Nhất thống chí hai lần nhắc đến nhưng xem ra có thể nhiều người không để ý. Đó là chuyện trái tim của Lê Chiêu Thống.

Vâng, trái tim chính hiệu chứ không bóng gió gì cả. Xin chép nguyên văn: “Năm Giáp Tý (1804) vua Thanh [tức là Gia Khánh, kế vị Càn Long] giáng chỉ cho đưa di hài của vua Chiêu Thống về táng ở quê nhà…Tháng giêng năm ấy, các bề tôi mở quan tài vua Lê Chiêu Thống thì thấy da thịt đã nát hết chỉ có trái tim không nát, mà màu sắc vẫn còn tươi. Tính từ khi quàn đến bây giờ đã hai năm [] Ngày 13 tháng 8 mùa thu năm đó, di hài vua Lê đưa về đến cửa ải [] Ngày 12 tháng 10, các quan thay hài cốt vua Lê sang một chiếc tiểu khác. Thấy trái tim vẫn còn y nguyên”. Trước đó đã có đoạn miêu tả tâm trạng Lê Chiêu Thống qua lời trăng trối: “Trẫm gặp lúc vận nhà suy kém, không thể giữ được xã tắc, phiêu bạt ở đất nước người để hòng tính chuyện khôi phục, lại bị đứa quyền gian lường gạt, uất ức đến mãi bây giờ, phải ôm hận mà chết, thật do lòng trời gây nên. Sau này nếu các người được về nước, thì nên đèo nắm xương tàn của trẫm cùng về, chôn ở cạnh lăng tẩm của các vị thánh hoàng đời trước, để tỏ rõ chí hướng của trẫm”.

Vậy đó. Liệu đọc lại những điều nói trên độc giả có thể tất phần nào cho lỗi lầm một tội đồ của lịch sử? Thể tất, vì ông vua tệ hại nhất trong số những “đấng quân vương” từng ngự trị trên ngai vàng để thần dân nước Việt buộc phải tung hô ấy cũng có một trái tim! Hãy để sang một bên chuyện “hư cấu” khi lịch sử được chuyển thành truyện, thành tiếu thuyết cho dù có nâng tác phẩm lên hàng “sử thi”. Hãy cứ tạm thừa nhận cái hình tượng trái tim trong thi hài sau hai năm “vẫn còn y nguyên, màu sắc vẫn còn tươi khi da thịt đã nát hết” để luận đôi điều về hình tượng giàu gợi ý đó. Vì khi nói về trái tim, cho dù trái tim của một người từng bị nguyền rủa về tội bán nước cầu vinh, liệu có đáng được hưởng chút bao dung trong suy ngẫm: “Quả tim tội nghiệp của con người vẫn là quả phao để cứu giữ ít nhiều thơ mộng khỏi sa xuống vực tối” như một nhà văn Pháp đã viết?

Ở đây không có ít nhiều thơ mộng, ở đây là nỗi tuyệt vọng của một số phận lầm lỗi trong sự mê muội, lú lẫn về “chí hướng”. Đó là chí hướng “tính chuyện khôi phục” cái ngai vàng đã quá mục ruỗng của thời Lê mạt mà sự cáo chung chỉ là sớm muộn. Hãy cứ cho là chí hướng đó là khả thủ, thì không thể không chỉ rõ cách lựa chọn giải pháp để thực hiện “chí hướng” là quá ngu muội với tội rước voi về giày mả tổ. Gợi lại sự ngu muội và đê hèn của Lê Chiêu Thống không những nhục nhã luồn cúi vua tôi Càn Long nhà Thanh mà còn rước Tôn Sĩ Nghị đem mười vạn quân Tàu vào giày xéo đất nước, là để một lần nữa gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh cho những Lê Chiêu Thống của thế kỷ XXI.

Nếu cái khát vọng cuối cùng của Lê Chiêu Thống là di hài của mình được “chôn ở cạnh lăng tẩm của các vị thánh hoàng đời trước” rồi cũng được thực hiện “Vua Thanh sai dùng lễ Quốc công an táng vua Lê ở khu Quảng Lăng, ngoài cửa Tây Trực”, Hoàng Lê Nhất thống chí chép rất rành rọt. Thì ra từ xa xưa bọn xâm lược cáo già từng rất thành thục mua chuộc kẻ cam phận làm tay sai, đặc biệt là kẻ đứng đầu hoặc nắm quyền cai trị ở cấp cao nhất, vì đó là cái giá rẻ nhất cho việc biến một đất nước thành chư hầu.

Xưa đã vậy, nay càng như vậy, cho dù biến thái có khác nhau. Thời buổi văn minh của thế kỷ XXI, tuy có công nghệ điện táng thi hài, nhưng “nghi trượng” oai phong lẫm liệt của đám tang những “tứ trụ” hoặc những bậc công thần đời mới vẫn cứ hấp dẫn ai đó hơn. Cái tâm lý “một ngày tựa mạn thuyền rồng…” xem ra vẫn còn ám ảnh trong não trạng của chẳng ít người bỗng dưng như chuột sa chĩnh gạo, chó ngáp phải ruồi, một phát ngất ngưởng ngồi trên đầu thiên hạ, khiến đêm nằm ngủ còn nhờ vợ véo tai xem thử mình đang mơ hay đang ngồi trên cái ghế ấy thật!

Thì nghe đâu đã từng có một ông tướng nọ bị ung thư giai đoạn cuối đúng vào lúc “cơ cấu lãnh đạo” đã cấm tiệt bác sĩ tuyệt đối không được kể bệnh mà phải ghi là “sức khoẻ đang hồi phục tốt” đó sao. Tội nghiệp cho vị bác sĩ phụ trách bệnh viện, vì thương thủ trưởng, muốn thủ trưởng không sớm ra đi, đã cưỡng lệnh mà kê đơn bốc thuốc nên nghe đâu đã bị cách chức. “Quân lệnh như sơn” chớ có dại. Mà đây lại là “quân lệnh” đặc biệt nhằm thẳng tiến đến chức chủ tịch gì gì cơ đấy. Cách chức là còn nhẹ, may mà rồi ông ấy toi thật, chứ không thì hoạ “tru di” là nhỡn tiền. Dĩ nhiên hình thức “tru di” cũng văn minh lịch sự chứ không máu chảy đầu rơi như thời phong kiến thối nát đâu. Chỉ là thanh tra thuế “làm việc với công ty” nhằm triệt đường làm ăn của con, tác động dây chuyền đến việc học hành, thăng tiến xã hội của cháu. Nhẹ nhàng thế thôi.

Người viết bài này có “diễm phúc” được diện kiến vị tướng nọ trong một buổi báo cáo về một đề tài khoa học trước các vị lãnh đạo cấp cao, để rồi nghe ông hạch: “Này anh TL, để tính ra hệ số mà anh gọi là Gini gì gì đó là từ đâu mà ra không? Từ Mỹ, từ Úc, từ Canada đó”. Đây là ông nói về kiều hối, chuyện này đã nói trong “Cảm nhận và Suy tư” xin không nhắc lại.

Ông hạch, vì ông muốn dạy dỗ phải kiên định lập trường, không “mơ hồ địch ta, mơ hồ diễn biến hoà bình”. Tôi cho là ông có ý tốt, muốn uốn nắn “tư tưởng chuyên môn thuần tuý rất có hại cho Đảng”. Chỉ có điều, yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau. Thì cũng đại loại như cách uốn nắn, dạy dỗ của ông Nguyễn Phú Trọng dạo nào: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chứ gì nữa? Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không?… Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì…ì? Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này.

Thì cứ cho là ông rất chân thành đi, rất tâm huyết đi, rất kiên định “tỏ rõ chí hướng” đi, thì rồi sao? Chí hướng gì đây? Phải chăng là chí hướng “tính chuyện khôi phục” cái thể chế chính trị đang bị lung lay tận gốc, mà nguyên nhân, đồng thời cũng là hệ luỵ của nó thì ai cũng thấy, miễn phải thuyết minh. Vấn đề có ý nghĩa sống còn là phương cách tỏ rõ chí hướng vàtính chuyện khôi phục cái còn sót lại của một hệ thống đã sụp đổ tan tành như lâu đài xây trên cát. Hình như ông quên bẵng đi câu nói bất hủ vốn giấu kín trong trái tim tội nghiệp về sự dao động, hoang mang “đến hết thế kỷ này không biết đã có Chủ nghĩa Xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa!

Có lẽ từ trong tim, chính ông không tin, nhiều người trong các ông cũng không tin. Nhưng nếu không bám vào cái mô hình xã hội chủ nghĩa đã đẩy đất nước dấn sâu vào lạc hậu sau 40 năm để rồi muốn đuổi kịp một nước mà năm 1975 xuất phát điểm về kinh tế cũng chỉ bằng ta, nhưng nay ta phải mất 35 năm may ra mới đuổi kịp họ với một giả thiết là họ đứng yên để chờ ta, thì làm sao giữ được cái ghế quyền lực của ông đang ngồi thêm một nhiệm kỳ nữa?

Chính vì vậy mà phải chọn một giải pháp cực kỳ nguy hiểm là bám lấy người đồng chí cùng chung ý thức hệ mà trong thâm tâm chắc ông cũng như cả bộ sậu của ông đôi khi cũng thấy bất an. Cái trò đu dây đầy phiêu lưu mà hệ luỵ cực kỳ khó lường thì ngày càng lộ ra. Đành rằng đã trót phóng lao thì phải theo lao, nhưng nỗi bất an đang ngày càng tích luỹ theo cấp số nhân nên mới lâm vào thế “khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào” mà trong “Mênh mông thế sự 29” đã có dịp nói đến, chắc khỏi phải bàn thêm.

Nếu có bàn, thì bàn thêm vào những câu nói có tính ngẫu hứng, nhưng vì thế mà hiểu được rõ hơn diện mạo, trí tuệ và bản lĩnh của người nói, Bởi lẽ, như các cụ ta xưa từng nhắc nhở “một lời nói làm cho nước hưng thịnh” nhưng “một lời nói làm cho mất nước” (3) như biện giải của cụ Lê Quý Đôn sẽ dẫn ra dưới đây. Có lẽ phải mạn phép cụ để thêm vào: một lời nói làm tăng thêm sự ngớ ngẩn của một chính khách! Ví như câu nói, đúng hơn là câu hỏi nóng hổi “Ai chạy? Chạy ai? Đằng sau nó là cái gì? Có khi biết mà không nói ra được hay là không dám nói” (báo Tuổi Trẻ ngày 27.3.2016). Ai, cái gì, không nói ra được hay là không dám nói, thì người hỏi đã biết quá rõ rồi, việc gì còn phải đặt ra nữa. Cách nay đúng mười năm, ông Nguyễn Đức Tâm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã nói rất rành rẽ, báo Pháp Luật TP Hồ Chí Minh ngày 16.4.2006 đã đăng: “Chạy chức chạy quyền không chỉ ở cơ sở mà trên nữa. Chức thấp tiền ít. Chức càng cao tiền càng lớn. Đã bỏ ra, có chức có quyền rồi thì người ta phải thu về. Mà thu về thì phải có lãi. Càng lãi nhiều càng tốt. Mua quan bán chức, chạy chức chạy quyền là một nguyên nhân làm tha hóa cán bộ”.

Chỉ có cán bộ đảng viên của ông mới chạy chức và chạy quyền, “không chỉ ở cơ sở mà trên nữa. Chức thấp tiền ít. Chức càng cao tiền càng lớn” chứ dân đen thì dính vào đây sao được. Mà dính vào làm gì mặc dầu họ biết rõ, biết tường tận, chẳng cần đợi đến khi trên mạng phơi ra nhân chứng, vật chứng không lẫn vào đâu được nào nhà cửa, chứng từ, nào ảnh chụp đủ mặt vợ chồng con cái đấy thôi. Quả là “thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi” nhằm trả lời câu hỏi ngài Tổng Bí thư đặt ra “đằng sau nó là cái gì” rồi đấy.

Ngài “biết mà không nói ra được” chứ đâu phải là “không dám nói”! Chỉ dân thì mới không dám nói vì họ sợ bị ghép vào điều 258 của Bộ Luật hình sự, chứ ngài thì luật nào dám đụng đến. Biết mà không nói ra được vì sợ gậy ông đập lưng ông, “ném chuột vỡ bình” làm vỡ lở chuyện “không ngờ được Đại hội tín nhiệm giới thiệu, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Tổng Bí thư gần như 100% tuyệt đối”.

Ấy vậy mà, “thanh khí gốc ở trời và có liên quan với thời đại. Nó tan vào lòng người, thần thông cảm ứng rất linh diệu, rất tinh vi, khó có thể hình dung ra được như Lê Quý Đôn chỉ raVả chăng, “nói lời không khó, làm nên việc mới khó. Thiên hạ thay đổi, chí hướng mỗi người mỗi khác. Rót vào bên đông sẽ chảy về bên tây, bịt chỗ này lại vọt ra chỗ khác, làm sao bắt được mọi cái đều theo ý mình… Không thể có sự làm điều bất nhân giành thiên hạ mà hưởng lộc nước lâu dài được”. Để nói lên cái quy luật muôn đời ấy, Lê Quý Đôn dẫn lời Tôn Quyền luận về đạo lý của sự loạn và sự mất của các triều đại trong lịch sử: “Xưa nay đâu có chuyện bốn năm người cùng giữ quyền chính mà không chia rẽ, đả kích nhau rồi quay ra cắn xé lẫn nhau, kẻ mạnh thì lăng mạ bạo ngược, kẻ yếu thì xin cứu viện. Đó là đạo lý của sự loạn và sự mất”.

Chao ôi! Lời người xưa nói chuyện thời xưa, nhưng sao cứ như thế sự đang diễn ra trước mắt rõ mồn một thế này? Mà đâu chỉ chuyện thế sự nước ta. Chuyện thế giới cũng vậy thôi. Nhân nói về hình tượng trái tim xin gợi ra đây một trái tim được nhắc đến trong diễn văn của Tổng thống Obama tại Cuba ngày 22.3.2016 nói về những người Cuba từng phải bỏ nước ra đi: Họ “đang cưu mang trong tim bao nhiêu ký ức đau thương của những cuộc cách ly đầy máu và nước mắt. Họ yêu Cuba, và một phần của họ luôn luôn xem nơi đây là chốn quê nhà. Chính vì vậy mà nỗi đau của họ rất sâu… Lịch sử giữa Hoa Kỳ và Cuba có cách mạng, chiến tranh, đấu tranh, hy sinh, ân oán, và bây giờ là hoà giải. Đã đến lúc chúng ta bỏ quá khứ lại sau lưng. Đã đến lúc chúng ta cùng quay hướng nhìn về tương lai”.

Vì thế mà Obama nói rõ: “Hôm nay tôi đến đây để chôn những di vật cuối cùng của cuộc Chiến tranh lạnh. Tôi đến đây để bắt tay và kết bạn với người dân Cuba”. Ông nhắc đến lời José Martí của Cu Ba “Tự do là quyền được sống thật, được suy nghĩ và phát ngôn mà không cần phải ra vẻ đạo đức giả”. Tổng thống Mỹ lưu ý rằng: “Những lý tưởng cách mạng của Hoa Kỳ, của Cuba, của bao cuộc nổi dậy khác trên thế giới, tôi tin rằng chỉ thật sự có ý nghĩa khi chúng được đặt trên nền tảng dân chủTôi tin như vậy không phải vì nền dân chủ của nước Mỹ là hoàn hảo, mà bởi vì nó không hoàn hảo. Đất nước chúng tôi, cũng như bao quốc gia khác, cần không gian rộng lớn của dân chủ để tự điều chỉnh. Bất cứ người dân nào cũng có thể là nhân tố cho sự thay đổi, đưa ra những ý tưởng mới, sáng lập những mô hình xã hội tốt đẹp hơn. Ngay lúc này và ngay trong nước Cuba, một sự tiến hoá cũng đang ngầm xảy ra; một thế hệ người dân Cuba mới đang thành hình.

Thì ra, có những nguyên lý mà cách nay cả nghìn năm người xưa nói ra đến nay lại cứ như cố tình răn đe cho lũ hậu sinh thế kỷ XXI là chúng ta đây. Đó là lời Lê Quý Đôn trong Quần Thư khảo biện: “Nếu cứ cố chấp vào một thuyết mà không biết lường thời thế, không biết linh hoạt thì không tránh khỏi thất bại vậy”. Xin mạn phép cụ để lấy làm lời kết vậy.

T. L.

Tác giả gửi BVN.

____________________

Chú thích:

(1) Thơ Nguyễn Công Trứ.

(2) Ngô gia văn phái. Hoàng Lê nhất thống chí. NXB Văn Học, Hà Nội, 2006. Từ đây, tất cả trích dẫn nói về thời Lê mạt là theo bản này.

(3) Lê Quý Đôn. Quần thư khảo biện. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995, tr. 50. Từ đây, tất cả trích dẫn từ Lê Quý Đôn là theo bản này.

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 08:03 
Nhãn: 
 

Tác giả bài viết: Quyen Dau

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn