Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 40


Hôm nayHôm nay : 5527

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 128606

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 11685214

Trang nhất » Tin Tức » ĐỌC VÀ SUY NGẪM » Bài viết chia sẻ

Sự khác biệt giữa Vi Khuẩn (Bacteria) và Siêu vi trùng (Viruses).

Thứ sáu - 28/04/2017 10:34
Sự khác biệt giữa Vi Khuẩn (Bacteria) và Siêu vi trùng (Viruses).

Sự khác biệt giữa Vi Khuẩn (Bacteria) và Siêu vi trùng (Viruses).

Virus và Vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu. Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa Virus và Vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do Vi khuẩn, hoặc Virus gây ra.
Image result for virus vs bacteria
 
Sự Lây Lan Và Cách Phòng Ngừa.
 
Virus và Vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu.
Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa Virus và Vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do Vi khuẩn, hoặc Virus gây ra.
 
1. Vi khuẩn là gì ?
 
sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus
 
Vi khuẩn thuộc loại đơn bào, có ở khắp mọi nơi, chỉ một giọt sữa chua là có thể chứa 100 triệu Vi khuẩn. Hầu hết các Vi khuẩn sinh sản bằng cách phân bào (một tế bào tách làm đôi).
Vi khuẩn giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa của người và vật, giúp hóa mùn cây cối và súc vật chết, giúp cho tiến trình lên men hiệu quả.
Vi khuẩn có vai trò quan trọng trong tái chế chất dinh dưỡng như cố định nitrogen từ khí quyển và gây thối rữa sinh vật khác.
 
2. Virus là gì ?
 
virus và vi khuẩn khác nhau như thế nào
 
Virus lớn lên và phát triển chỉ khi chúng sống trong tế bào sống. Sống ngoài tế bào sống, Virus sẽ tự hủy diệt, không thể phát triển được, trừ khi chúng sống trong tế bào động vật, thực vật, hay Vi khuẩn.
Virus gây bệnh cho người và vật, do thở hay nuốt vào, đột nhập vào lỗ hổng trên da, hoặc tiếp xúc máu hoặc chất thải từ người bệnh.
Virus bao gồm vật liệu di truyền (DNA hoặc RNA) bao quanh bởi một lớp phủ bảo vệ của protein. Có khả năng bám vào các tế bào và nhận được bên trong chúng.
Virus có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật, từ động vật, thực vật cho tới Vi khuẩn.
 
3. Sự khác nhau giữa Vi khuẩn và Virus ?
 
http://khoemoivui.com/wp-content/uploads/2014/12/10S2905.gif
(Chú thích: dấu + là Có, dấu – là Không)
 
* Vi khuẩn (Bacteria) - Gây viêm nhiễm nhưng diệt được.
 

Vi khuẩn còn được gọi là Vi trùng, chúng hiện diện khắp nơi trong đất, nước, và ở dạng cộng sinh với các sinh vật khác. Một số là tác nhân gây bệnh và gây ra bệnh uốn ván, thương hàn, giang mai, tả, bệnh lây qua thực phẩm, và lao.
 
Một số nhiễm khuẩn có thể lan rộng ra khắp cơ thể, và trở thành bệnh toàn thân.
Bệnh do Vi khuẩn lây nhiễm qua tiếp xúc, không khí, thực phẩm, nước, và côn trùng.
Vi khuẩn gây viêm nhiễm nhưng diệt được mầm bệnh, bệnh do bị nhiễm khuẩn có thể trị bằng thuốc kháng sinh, được chia làm hai nhóm là: diệt khuẩn (bacteriocide), và kềm khuẩn (bacteriostasis), với liều lượng mà khi phân tán vào dịch cơ thể có thể tiêu diệt, hoặc kìm hãm sự phát triển của Vi khuẩn.
 
* Virus - Thuốc kháng sinh vô tác dụng với virus.

Virus chỉ có thể sống và phát triển được khi xâm nhập vào bên trong tế bào của sinh vật khác (người, động vật, và cây cỏ) và khi ra khỏi ký chủ, vào môi trường ngoài (nước, không khí…) chúng sẽ không sống được lâu.
Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loài Virus khác nhau, trong đó có khoảng 300 loài có khả năng gây bệnh cho người như: AIDS, viêm gan B và C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa, cúm
 
Khác với Vi khuẩn, Virus đánh vào hệ miễn dịch của cơ thể nên điều trị bằng kháng sinh không có tác dụng, mà chỉ có thể chống lại bằng cách tiêm vaccin.
Riêng các loại Virus gây cúm, vì chúng biến chủng rất nhanh, nên vaccin chế từ Virus năm này lại không hữu hiệu với cùng Virus ấy cho năm tới. Vì thế các loại vaccin hiện có không ngừa được Virus cúm A (H1N1).
Khi thời tiết chuyển mùa hay trở lạnh, sẽ là điều kiện thuận lợi để Virus gây bệnh.
 
4. Tại sao thuốc kháng sinh (antibiotic) không điều trị được bệnh do Virus gây ra ?
Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London), Alexander Plemming phát hiện ra chất kháng sinh (antibiotic) diệt khuẩn, và đặt tên là penicillin.
Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà Nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin mới được Chính phủ Mỹ chấp nhận, và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.
Từ penicillin, nhiều nhà Nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau, và đã xếp chúng thành nhiều nhóm, dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với Vi khuẩn.
 
Kháng sinh (Antibiotic) đối với Virus thì như thế nào?
 
Do cấu tạo Virus hoàn toàn khác biệt với tế bào Vi khuẩn và nó không phải là một tế bào hoàn chỉnh bởi cấu tạo đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào Vi khuẩn chỉ là bộ gen (hoặc DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”.
Do cấu tạo đặc biệt đó nên bắt buộc Virus phải sống ký sinh bên trong tế bào ký chủ mà nó xâm nhiễm, bởi vì Virus không có hệ thống enzym hoàn chỉnh, nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình, hoặc tự sinh sôi nảy nở được.
Do đó, để tồn tại và phát triển thì Virus phải xâm nhập vào trong các tế bào khác (tế bào  ký chủ) và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.
 
sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus 
 
Khi vào cơ thể, lớp vỏ protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết được. Hơn nữa, kháng sinh diệt được Vi khuẩn, vì Vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào, nên kháng sinh có thể diệt nguyên Vi khuẩn, còn Virus nằm trong vật chất di truyền của tế bào ký chủ, cho nên nếu kháng sinh diệt Virus thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của ký chủ (người, hoặc động vật).
Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công Virus, sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào ký chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn.
Hơn thế nữa, Virus còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.
Để thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với Virus, các nhà Khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt Virus dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc, và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào ký chủ của Virus.
Tuy vậy, Virus luôn thay đổi hình dạng, và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng.
 
5. Virus và Vi khuẩn lây lan như thế nào ?
 
sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus
 
– Một người bị lạnh có thể lây nhiễm Vi khuẩn, hoặc Virus bằng cách ho, hoặc hắt hơi.
– Vi khuẩn, hoặc Virus có thể được lây lan bằng cách chạm, hoặc bắt tay với người khác.
– Chạm vào thức ăn với bàn tay bẩn, cũng sẽ cho phép Virus, hoặc Vi khuẩn từ ngoài lây lan tới ruột.
 Lây qua dịch cơ thể:  như máu, nước bọt, và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật, ví dụ bằng cách tiêm, hoặc quan hệ tình dục (đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do Virus như viêm gan, hoặc AIDS).–
 
Virus lây lan theo nhiều cách; Virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng; trong khi Virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ những côn trùng hút máu. Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những vector.
Virus cúm lan truyền thông qua ho, và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng, và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn, hay nước uống.
HIV là một trong vài loại Virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục, và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh. Mỗi Virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là “biên độ vật chủ” (host range); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau, mà Virus có khả năng lây nhiễm.
 
sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus
 
Sự xâm nhập của Virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ Virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vaccin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một Virus xâm nhiễm nhất định.
Tuy nhiên, một số Virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên, và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa số các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với Virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng Virus được phát triển.
 
6. Làm thế nào để tránh nhiễm trùng ? 
 
-  Rửa tay thật kỹ (thường là một trong những cách tốt nhất để tránh bị cảm cúm).
– Bắt tay với người bị cảm lạnh là nguy hiểm, do đó, tránh dụi mắt, hoặc mũi của bạn sau đó.
– Thức ăn phải được nấu chín, hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.
– Rau, và thịt phải được lưu giữ riêng, và chuẩn bị trên thớt riêng biệt.
– Khi bị cảm cúm, hoặc hắt hơi, sổ mũi, cần chuẩn bị khăn giấy, khăn cá nhân để ngăn chặn đưa Virus, Vi khuẩn ra ngoài môi trường. Cần luyện thói quen ho vào cánh tay áo (nếu không có khăn giấy),  và khạc nhổ vào giấy vệ sinh rồi gói lại cho vào thùng rác.
phòng bệnh do vi khuẩn và vi rút gây ra
 
– Một số sinh vật bị giết khi thức ăn được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại có thể gây ra tiêu chảy và nôn mửa. Hạn chế ăn các thức ăn để qua đêm, vì dù đun sôi, Vi khuẩn có thể chết, nhưng độc tố gây bệnh do Vi khuẩn tạo ra trong thực phẩm vẫn còn.
– Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan bệnh qua đường tình dục.
– Giữ phong cách sống, và tinh thần tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh.
 
7. Một số bệnh do Virus gây ra và cách phòng bệnh:
 
- Tiêu chảy do Virus:  Bệnh tiêu chảy mùa đông do Rota Virus gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 – 7 ngày. Khi bị bệnh thường có biểu hiện sốt nhẹ, hơi mệt, nôn, tiêu chảy, ở trẻ em có quấy khóc… Người bệnh đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh, hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải. Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong, nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời.
 
- Sốt do Virus: Các triệu chứng sốt Virus điển hình là ban đầu sốt nhẹ khoảng 38 – 38,5 độ C, sau đó bùng lên sốt cao đến 39 độ C, hoặc cao hơn nữa. Nhiều người đau họng, ho hắng nhẹ, đau nhức mình mẩy, vã mồ hôi, mệt mỏi. Thường sau 5 – 6 ngày, bệnh sẽ tự khỏi.
Về điều trị, chỉ cần dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, hoặc dùng các loại thuốc cảm để chữa triệu chứng đau nhức, sổ mũi, ho… Ngoài ra nên súc miệng nước muối, và nhỏ mũi thường xuyên. Không nên dùng kháng sinh.
 
Sốt Virus là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và công sở, nơi dùng điều hòa không khí. Do đó, người bị sốt Virus nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Nếu mệt nặng, nên nghỉ làm. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C, và bảo vệ sức khỏe. Để cơ thể có sức đề kháng tốt cần ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu như cháo, súp… ngoài ra nên uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả…
 
8. Cách phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn và virus gây ra:
 
Bạn cần có một phong cách sống lành mạnh, tinh thần tích cực để giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh.
Vì khi hệ miễn dịch yếu thì Vi khuẩn, hoặc Virus nào cũng có thể tấn công bạn.
Bạn cần thực hiện 8 điều tốt sau đây nhé:
 
thuc-pham-tot-cho-suc-khoe-2
 
– Ăn tốt: đủ dinh dưỡng, cân bằng, hợp lý, tươi, sạch, an toàn.
 Uống đủ nước và đúng cách.
 Ngủ tốt: ngủ đúng giờ, phòng thoáng khí, đông ấm, hè mát, ngủ sâu giấc.
– Tập tốt: Tập thể dục và vận động hàng ngày, để thúc đẩy quá trình trao đổi chất và đào thải độc tố.
 Nghĩ tốt: suy nghĩ tích cực, lạc quan, để có sức khỏe tinh thần tốt.
 Môi trường sống tốt: xanh, sạch, đẹp.
– Học tốt: học các kiến thức chăm sóc, bảo vệ và phòng bệnh mỗi ngày.
– Làm tốt: Làm tốt công việc của bạn để có tài chính tốt bảo đảm cho bản thân và gia đình.  ./.
 

Tác giả bài viết: Van Tran

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn