Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 48


Hôm nayHôm nay : 6454

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 243387

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 12563022

Trang nhất » Tin Tức » SỐNG ĐẠO MỖI NGÀY » Đọc thánh kinh mỗi ngày

TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

Thứ ba - 28/10/2014 08:32
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

Chương III Các Giáo Hội Và Cộng Ðoàn Giáo Hội 31* Ly Khai Với Tông Tòa Roma
MỤC LỤC
 
Các Giáo Hội Và Cộng Ðoàn Giáo Hội Ly Khai Với Tông Tòa Roma  …………………. Vatican 2
Điều răn trọng nhất  ………………………………………………………….  Lm PX. Vũ Phan Long
LÀ KITO HỮU KHÔNG PHẢI LÀ KẾT QUẢ CỦA MỘT CHỌN LỰA ĐẠO ĐỨC………………… …………………………………….…………………………..………. Bác Sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD.
MẾN CHÚA YÊU NGUỜI , BIẾT MÀ SỐNG CHƯA? ………………..  Lm Fx Nguyễn hùng Oánh
TÁC PHẨM, TÁC GIẢ VÀ NGƯỜI DỊCH THƠ ……………………………. Nhạc Sĩ Văn Duy Tùng
“Mục vụ gia đình là nghệ thuật dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần”………………………. ………………………………………………………WHĐ Phỏng Vấn Đức TGM Phaolo Bùi Văn Đọc
CÓ THƯỞNG PHẠT ĐỜI ĐỜI KHÔNG ?...............................................  Lm. PX. Ngô Tôn Huấn
MỘT CON NGƯỜI LỊCH SỬ ……………………………………….……… Lm. VĨNH SANG, DCCT
ONWARD CATHOLIC SOLDIER -  Chương 3 – CÁM DỖ …………... Lm. Minh Anh chuyển ngữ
TIẾN TRÌNH ƠN GỌI NĂM BƯỚC - BƯỚC THỨ HAI: LỜI ĐÁP TRẢ CỦA MỖI NGƯỜI………. …………………………………………………………………..Lm. Micae Phaolo Trần Minh Huy, pss
NHỮNG GIỌT MỒ HÔI …………………………………………………. Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức, MD.
SAU LƯNG ………………………………………………………………  Chuyện phiếm của Gã Siêu
 
Text Box: Các Giáo Hội Và Cộng Ðoàn Giáo Hội Ly Khai Với Tông Tòa Roma 
 Thánh Công Ðồng Chung Vaticanô II
 
Sắc Lệnh
Về Hiệp Nhất
Unitatis Redintegratio
 
Bản dịch Việt Ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X
Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

 

 
13. Phân loại. Giờ đây, chúng ta đưa mắt nhìn đến hai khối phân ly chính xúc phạm đến chiếc áo liền một tấm của Chúa Kitô 32*.
Khối phân ly thứ nhất đã nẩy sinh ở Ðông Phương, hoặc vì để phản đối các công thức tín lý của các Công Ðồng Ephêsô 33* và Calcedonia 34*, hoặc sau này vì sự cắt đứt 35* hiệp thông Giáo Hội giữa các Giáo Chủ Ðông Phương và Tòa Thánh Roma.
Thứ đến, hơn bốn thế kỷ sau, khối phân ly thứ hai phát sinh ở Tây Phương do những biên cố cùng được mệnh danh là Cải Cách. Từ đó, nhiều Cộng Ðoàn, quốc gia hoặc giáo đoàn đã ly khai với Tòa Thánh Roma. Trong số ấy còn có những Cộng Ðồng duy trì phần nào những truyền thống và cơ cấu công giáo, đáng kể nhất là Cộng Ðoàn Anh Giáo.
Các mối chia rẽ ấy rất khác nhau chẳng những về nguồn gốc, không gian và thời gian, nhưng nhất là về bản chất và tầm quan trọng của các vấn đề liên hệ đến đức tin và cơ cấu Giáo Hội.
Vì thế, tuy không coi thường những hoàn cảnh dị biệt của các Cộng Ðoàn Kitô hữu khác nhau ấy, tuy không bỏ qua những mối liên lạc còn đang nối kết họ với nhau, bất chấp những mối chia rẽ hiện có, Thánh Công Ðồng này quyết định đề ra những nhận định sau đây để mọi người biết khôn ngoan hành động mưu cầu hiệp nhất.
 
I. Nhận Ðịnh Ðặc Biệt Về Các Giáo Hội Ðông Phương
14. Tính chất lịch sử riêng biệt của các Giáo Hội Ðông Phương. Trong nhiều thế kỷ, các Giáo Hội Ðông và Tây Phương đã đi theo đường lối riêng của mình, nhưng vẫn liên kết với nhau trong tình huynh đệ nhờ hiệp thông trong đức tin và đời sống bí tích; do sự thỏa thuận chung, Tòa Thánh Roma can thiệp mỗi khi các Giáo Hội ấy bất đồng quan điểm với nhau về đức tin hay về kỷ luật. Thánh Công Ðồng hân hoan nhắc lại cho mọi người một trong những điều quan trọng là, ở Ðông Phương đang phát triển nhiều Giáo Hội riêng biệt hay địa phương 36*, đứng đầu là các Giáo Hội có Thượng Phụ 37*, trong đó có nhiều Giáo Hội hãnh diện vì được chính các Tông Ðồ thiết lập 38*. Vì thế các tín hữu đông phương đã và đang mang nặng mối bận tâm và âu lo duy trì những liên lạc thân hữu trong hiệp thông đức tin và đức ái, là những liên lạc phải có giữa các Giáo Hội địa phương như giữa anh em ruột thịt 39*.
Cũng đừng quên rằng, các Giáo Hội Ðông Phương từ khởi đầu đã từng có một kho tàng cống hiến cho Giáo Hội Tây Phương nhiều yếu tố về phụng vụ, về truyền thống tu đức và luật pháp. Còn một sự kiện khác không nên coi thường là, những tín điều căn bản về đức tin Kitô giáo như Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập Thể bởi Ðức Trinh Nữ Maria, đã được định tín trong các Công Ðồng Chung khai diễn tại Ðông Phương 40*. Các Giáo Hội ấy đã và đang chịu nhiều khổ đau để gìn giữ đức tin ấy.
Di sản do các Tông Ðồ truyền lại đã được đón nhận qua nhiều hình thức và cách thế khác nhau, do ngay từ thuở ban đầu của Giáo Hội, di sản ấy cũng được giải thích khác nhau đây đó tùy theo thiên tài và cảnh sống riêng. Không kể những nguyên nhân ngoại tại, bấy nhiêu yếu tố 41*, cộng với sự thiếu bác ái và thông cảm lẫn nhau, đã mở đường cho nhiều mối chia rẽ phát sinh.
Vì vậy, Thánh Công Ðồng khuyến dụ mọi người, đặc biệt là những ai muốn hoạt động tái lập sự hiệp thông trọn vẹn như các Giáo Hội Ðông Phương và Giáo Hội Công Giáo hằng mong mỏi hay nhận định chính xác về hoàn cảnh cá biệt đã khai sinh và phát triển các Giáo Hội Ðông Phương, và về đặc tính của mối liên lạc đã có giữa các Giáo Hội ấy với Tòa Thánh Roma trước thời phân ly cũng như hãy tạo cho mình một quan niệm chính đáng về tất cả những điểm nêu trên. Chu đáo giữ được những điều ấy là đã đóng góp rất nhiều cho cuộc đối thoại mong muốn kia 42*.
15. Truyền thống phụng vụ và tu đức của các Giáo Hội Ðông Phương. Mọi người đều thấy hiển nhiên là các tín hữu đông phương rất mộ mến cử hành phụng vụ Thánh, nhất là việc cử hành Phép Thánh Thể, nguồn sống của Giáo Hội và đảm bảo vinh quang đời sau, nhờ đó các tín hữu hiệp nhất với giám mục được đến gần Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Con Ngôi Lời Nhập Thể đã chịu đau khổ và được hiển vinh, trong ơn tràn trề của Chúa Thánh Thần họ được thông hiệp cùng Thiên Chúa Ba Ngôi rất thánh và "thông phần bản tính Thiên Chúa" (2P 1,4). Vì vậy, nhờ việc cử hành Thánh Thể trong từng Giáo Hội ấy, Giáo Hội Thiên Chúa được xây dựng và bành trướng 1, và sự thông hiệp giữa các Giáo Hội ấy tỏ rõ qua việc đồng tế.
Trong nghi lễ phụng vụ này, Ðức Maria trọn đời đồng trinh hằng được các tín hữu đông phương ca ngợi bằng những bài thánh ca tuyệt diệu. Công Ðồng Chung Ephêsô đã long trọng tuyên bố Ngài là Mẹ Thiên Chúa Rất Thánh, để Chúa Kitô được nhận thật là chính Con Thiên Chúa và là Con Người theo Thánh Kinh. Họ cũng ca tụng nhiều vị thánh, trong số ấy có các Thánh Giáo Phụ của toàn thể Giáo Hội.
Vì các Giáo Hội ấy, mặc dù ly khai, vẫn có các bí tích đích thực nhờ sự kế vị các Tông Ðồ, nhất là Chức Linh Mục và Phép Thánh Thể, bởi đó, họ còn liên kết chặt chẽ với chúng ta; cho nên một vài hình thức thông dự vào sự thánh, trong những trường hợp thuận tiện và với sự chấp thuận của giáo quyền, chẳng những là có thể thực hiện mà còn đáng khuyến khích nữa 43*.
Ở Ðông Phương cũng còn thấy nhiều truyền thống tu đức phong phú, tiêu biểu nhất là đời sống đan viện, vì tại đây, nền tu đức đan viện đã phát triển ngay từ thời vang son của các Thánh Giáo Phụ, và về sau, còn lan tràn sang nhiều nơi ở Tây Phương. Ðịnh chế dòng tu Latinh phát xuất, và sau đó, không ngừng nhận được sinh lực mới từ nền tu đức ấy như từ nguồn mạch của mình. Vì vậy, thiết tha kêu mời những người Công Giáo hãy nâng tìm đến kho tàng thiêng liêng của các Thánh Giáo Phụ Ðông Phương hơn vì kho tàng ấy nâng toàn thể con người đến chỗ chiêm ngưỡng những sự thần linh.
Mọi người đều biết rằng: thông hiểu, kính trọng, giữ gìn và phát triển di sản phụng vụ và tu đức rất phong phú của các tín hữu đông phương là việc tối quan trọng để trung thành bảo toàn truyền thống Kitô giáo và để thực hiện sự giao hòa các Kitô hữu đông phương với tây phương.
16. Quy luật riêng của các Giáo Hội Ðông Phương. Hơn nữa, ngay từ buổi đầu, các Giáo Hội Ðông Phương đã theo những qui luật riêng được các Thánh Giáo Phụ, các Công Ðồng và cả các Công Ðồng Chung phê chuẩn. Vì sự khác biệt về phong tục và tập quán đã nhắc tới trên kia chẳng những rất ít cản trở sự hiệp nhất mà còn tăng thêm vẻ đẹp của Giáo Hội và góp phần không nhỏ vào việc chu toàn sứ mệnh của Giáo Hội, nên để đánh tan mọi nghi ngờ, Thánh Công Ðồng tuyên bố: các Giáo Hội Ðông Phương, đang khi nhớ đến sự hiệp nhất cần thiết của toàn thể Giáo Hội 44*, vẫn có quyền tự trị theo các kỷ luật riêng, vì điều này phù hợp với đặc tính của tín hữu họ và có thể mưu ích cho các linh hồn hơn. Ðây là một nguyên tắc truyền thống người ta thường không noi giữ, nhưng, giữ trọn được là đã thỏa mãn một trong những điều kiện tối cần để tái lập hiệp nhất.
17. Tính chất đặc biệt của các Giáo Hội Ðông Phương về những vấn đề giáo lý. Những gì đã trình bày về sự dị biệt chính đáng trên kia cũng áp dụng được cho những phương thức trình bày giáo thuyết thần học khác nhau. Thực thế, trên đường đi tìm chân lý mạc khải, ở đông cũng như ở tây phương, có nhiều phương pháp và tiến trình khác nhau để nhận thức và tuyên xưng những sự thần linh. Do đó, không đáng ngạc nhiên khi thấy có vài khía cạnh của mầu nhiệm mạc khải đôi khi được một bên hiểu đúng và trình bày sáng sủa hơn bên kia, thành thử những công thức thần học khác nhau ấy phải được coi là bổ túc hơn là đối lập nhau. Còn về những truyền thống thần học chân chính của các tín hữu đông phương, phải công nhận là chúng ăn rễ cách tuyệt hảo trong Thánh Kinh, lại được khai triển và biểu hiện trong đời sống PhụngVụ, được nuôi dưỡng bằng truyền thống Tông Ðồ, sống động trong các văn phẩm của các Thánh Giáo Phụ Ðông Phương cũng như của các tác giả tu đức, chúng giúp xây dựng một cuộc đời chính trực và giúp chiêm ngưỡng đầy đủ chân lý Kitô giáo.
Tạ ơn Chúa vì nhiều tín hữu đông phương con cái Giáo Hội Công Giáo đang sống hoàn toàn hiệp thông 45* với các anh em thuộc truyền thống tây phương, mà vẫn giữ gìn và tha thiết sống phần gia sản ấy cho tinh ròng và đầy đủ hơn, Thánh Công Ðồng này tuyên bố rằng: toàn bộ di sản tu đức và phụng vụ, kỷ luật và thần học trong các truyền thống ấy thuộc về đặc tính công giáo và tông truyền trọn vẹn của Giáo Hội.
18. Kết luận. Sau khi nhắc tất cả những điều ấy, Thánh Công Ðồng này lập lại những gì đã được các Thánh Công Ðồng trước cũng như các Ðức Giáo Hoàng Roma tuyên bố: để tái lập và duy trì sự thông hảo và hiệp nhất, "chẳng còn buộc anh em gánh nặng nào khác ngoài những sự cần thiết" (CvSđ 15,28). Công Ðồng cũng tha thiết ước mong từ đây, mọi cố gắng đều nhằm thực hiện dần dần sự hiệp nhất 46* trong những định chế và hình thức khác nhau của đời sống Giáo Hội, nhất là trong kinh nguyện và đối thoại huynh đệ về giáo lý và về các nhu cầu mục vụ khẩn thiết hơn của thời đại chúng ta. Cũng thế Công Ðồng khuyên các chủ chăn và tín hữu của Giáo Hội Công Giáo hãy giao hảo với những kẻ không còn ở đông phương nhưng sống xa quê nhà, 47* để gia tăng sự cộng tác thân ái với họ hơn trong tinh thần bác ái và loại trừ những hình thức ganh đua, tranh tụng. Nếu mọi người hết lòng xúc tiến công cuộc này, Thánh Công Ðồng hy vọng rằng, sau khi bức tường ngăn cách Giáo Hội Ðông Tây bị phá đổ, sẽ chỉ còn ngôi nhà duy nhất được củng cố trên đá góc là Chúa Giêsu Kitô, Ðấng sẽ làm cho cả hai nên một 2.
 
II. Các Giáo Hội Và Cộng Ðoàn Giáo Hội Ly Khai Tây Phương
19. Tình trạng chung. Các Giáo Hội Cộng Ðoàn Giáo Hội đã ly khai với Tông Tòa Roma trong thời khủng hoảng trầm trọng nhất phát sinh ở Tây Phương từ cuối thời Trung Cổ hoặc mãi về sau này, vẫn còn liên kết với Giáo Hội Công Giáo bằng một mối dây thân thích và một sự liên lạc đặc biệt vì lớp dân Kitô giáo ấy đã sống hiệp thông với Giáo Hội rất lâu trong những thế kỷ trước.
Các Giáo Hội và Cộng Ðoàn Giáo Hội ấy vì sự dị biệt nguồn gốc, giáo lý và đời sống tu đức chẳng những khác với chúng ta mà còn khác biệt với nhau nữa, nên rất khó diễn tả cho đúng các Giáo Hội ấy và chúng tôi có ý làm điều ấy nơi đây.
Mặc dù phong trào hiệp nhất và ước vọng sống hòa bình với Giáo Hội Công Giáo chưa được đề cao khắp nơi, nhưng chúng tôi cũng hy vọng rằng ý thức hiệp nhất và sự tôn trọng lẫn nhau sẽ dần lớn lên trong mọi người.
Phải nhìn nhận rằng, có nhiều dị biệt quan trọng giữa các Giáo Hội và Cộng Ðoàn Giáo Hội ấy với Giáo Hội Công Giáo, chẳng những về phương diện lịch sử, xã hội, tâm lý, văn hóa, nhưng nhất là về cách giải thích chân lý mạc khải. Ðể có thể thiết lập cuộc đối thoại hiệp nhất dễ dàng hơn, bất chấp những dị biệt đó, sau đây chúng tôi muốn đề ra một vài điểm có thể và phải là nền tảng và yếu tố thúc đẩy cho cuộc đối thoại ấy 48*.
20. Việc tuyên xưng Chúa Kitô. Chúng tôi đặc biệt nghĩ đến những Kitô hữu đang công khai tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Thiên Chúa, Ðấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, để làm vinh danh Thiên Chúa độc nhất là Cha, Con và Thánh Thần. Thực ra chúng tôi biết nơi họ có nhiều khác biệt quan trọng với giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, khác biệt ngay cả về Chúa Kitô Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, về công trình cứu chuộc, và do đó, về mầu nhiệm và chức vụ của Giáo Hội cũng như về vai trò của Ðức Maria trong công cuộc cứu thế. Nhưng chúng tôi vui mừng khi thấy các anh em ly khai hướng về Chúa Kitô như là nguồn mạch và trung tâm của sự hiệp thông Giáo Hội. Xúc động vì ước vọng kết hiệp với Chúa Kitô, họ được thúc đẩy để càng ngày càng tìm về hiệp nhất và làm chứng đức tin của mình khắp muôn dân thiên hạ.
21. Học hỏi Thánh Kinh. Lòng yêu mến, kính trọng và gần như tôn sùng Thánh Kinh khiến các anh em của chúng ta bền chí và hăng say học hỏi Sách Thánh: vì Phúc Âm "là quyền năng Thiên Chúa để cứu rỗi mọi tín hữu, trước tiên là Do Thái, kế đến Hy Lạp" (Rm 1,16).
Nhờ cầu khẩn Thánh Thần, 49* họ tìm Thiên Chúa ngay trong Thánh Kinh, Ðấng như nói với họ trong Chúa Kitô, Ðấng các tiên tri loan báo trước và là Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể vì chúng ta. Trong Thánh Kinh, họ chiêm ngưỡng cuộc đời Chúa Kitô và những gì Thầy Chí Thánh đã dạy và đã làm để cứu rỗi loài người, họ cũng chiêm ngưỡng các mầu nhiệm, nhất là mầu nhiệm sự chết và phục sinh của Người.
Tuy các Kitô hữu ly khai với chúng ta xác nhận thần quyền của Sách Thánh, nhưng mỗi người mỗi khác, họ cảm nghĩ khác chúng ta về sự liên quan giữa Thánh Kinh và Giáo Hội; trong đó theo đức tin công giáo, giáo huấn đích thực đặc biệt có thẩm quyền trong việc giải thích và rao giảng Lời Chúa đã được ghi chép.
Tuy nhiên trong chính việc đối thoại, Lời Chúa là dụng cụ tuyệt hảo trong bàn tay toàn năng của Thiên Chúa để đạt tới sự hiệp nhất được Ðấng Cứu Thế tỏ bày cho mọi người.
22. Các bí tích. Nhờ Phép Rửa được ban đúng như Chúa đã thiết lập và được lãnh nhận với đủ dự kiện tâm hồn cần thiết, con người thật sự được tháp nhập vào Chúa Kitô đã chịu đóng đinh và vinh hiển, và được tái sinh để thông phần sự sống Thiên Chúa theo lời Thánh Tông Ðồ: "Anh em được mai táng với Người trong phép Rửa, anh em cũng sẽ được sống lại với Người bởi đã tin vào Thiên Chúa tác thành, chính Ðấng đã khiến Người từ trong kẻ chết sông lại" (Col 2,12) 3.
Vậy phép Rửa tạo nên mối dây hiệp nhất tất cả những kẻ đã được tái sinh. Nhưng phép Rửa, tự bản tính, mới chỉ là bắt đầu và khởi điểm, vì phép Rửa trọn vẹn nhằm đạt tới sự sống sung mãn trong Chúa Kitô. Như thế, phép Rửa qui hướng về việc tuyên xưng trọn vẹn đức tin, sát nhập trọn vẹn vào định chế cứu rỗi như chính Chúa Kitô đã muốn và sau cùng kết nhập trọn vẹn vào sự hiệp thông thánh thể.
Những cộng đoàn Giáo Hội ly khai với chúng ta, mặc dù không hiệp nhất đầy đủ với chúng ta như phép Rửa đòi hỏi, và mặc dù chúng ta tin họ không còn giữ được bản chất đích thực và nguyên vẹn của Mầu Nhiệm Thánh Thể nhất là vì thiếu bí tích Truyền Chứa Thánh 50*, nhưng khi tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa trong Tiệc Thánh họ đã tuyên xưng rằng sự sống chỉ có nghĩa nhờ hiệp thông với Chúa Kitô và họ mong đợi ngày trở lại vinh quang của Người. Do đó, phải dùng giáo lý về Tiệc Thánh của Chúa, về các bí tích khác, về việc phụng tự cũng như về các thừa tác vụ của Giáo Hội làm đối tượng cho cuộc đối thoại.
23. Cuộc sống với Chúa Kitô. Ðời sống Kitô hữu của các anh em ấy được nuôi dưỡng bằng đức tin vào Chúa Kitô và được duy trì nhờ ân sủng của phép Rửa và nhờ nghe Lời Thiên Chúa. Ðời sống ấy biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Thánh Kinh, trong đời sống gia đình Kitô giáo, trong việc phụng tự của cộng đoàn tụ họp để ngợi khen Thiên Chúa. Hơn nữa, đôi khi trong các nghi lễ phụng tự của họ cũng thấy có những yếu tố nổi bật thuộc nền phụng vụ cổ kính chung.
Ðức tin vào Chúa Kitô đã kết quả trong những lời ngợi khen và cảm tạ vì các ơn lành nhận được do Chúa ban; thêm vào đó là ý thức mạnh mẽ về đức công bình và tình yêu chân thành đối với tha nhân. Ðức tin sống động ấy cũng phát sinh nhiều tổ chức nhằm xoa dịu sự cùng khổ tinh thần và thể xác, giáo dục, tuổi trẻ, cải tiến những hoàn cảnh xã hội của cuộc sống thành nhân đạo hơn và củng cố nền hòa bình thế giới.
Mặc dù, trước các vấn đề luân lý, có nhiều Kitô hữu không luôn hiểu Phúc Âm cùng một cách như người công giáo và không cùng nhận những giải pháp giống nhau trước những vấn đề khó khăn của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, như chúng ta, họ cũng muốn giữ vững lời Chúa Kitô như là nguồn mạch của đức hạnh Kitô giáo và tuân theo lời Thánh Tông Ðồ dạy: "Hết thảy công việc anh em làm, bất cứ lời nói hay hành động, hãy thực hiện tất cả nhân danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Người cảm tạ Thiên Chúa Cha" (Col 3,17). Từ đó, có thể bắt đầu cuộc đối thoại hiệp nhất về việc áp dụng Phúc Âm vào các vấn đề luân lý.
 
Kết Luận
24. Sau khi đã vắn tắt trình bày những điều kiện và các nguyên tắc chỉ đạo để thực hiện công cuộc hiệp nhất, chúng tôi tin tưởng hướng về tương lai. Thánh Công Ðồng này khuyến cáo các tín hữu hãy tránh mọi sự nhẹ dạ và nhiệt thành thiếu khôn ngoan có thể phương hại tới việc phát triển công cuộc hiệp nhất. Thật vậy, hoạt động hiệp nhất của họ không thể thành tựu được, nếu nó không hoàn toàn và thực sự là công giáo, nghĩa là trung thành với chân lý do các Tông Ðồ và các Giáo Phụ 51* truyền lại và phù hợp với đức tin luôn được Giáo Hội Công Giáo tuyên xưng, đồng thời hướng tới sự sung mãn nhờ đó Chúa muốn Thân Thể Người được lớn lên qua các thời đại.
Thánh Công Ðồng này luôn khẩn khoản ước mong cho các sáng kiến của con cái Giáo Hội Công Giáo được tiến triển hòa hợp với các sáng kiến của anh em ly khai mà không cản trở đường lối của Thiên Chúa Quan Phòng, cũng như không gây thiên kiến làm phương hại đến những ơn Chúa Thánh Thần thúc đầy sau này. 52* Hơn nữa Thánh Công Ðồng cũng tuyên bố là mình luôn ý thức rằng ý nguyện thánh thiện giao hòa toàn thể Kitô hữu trong sự hiệp nhất của Giáo Hội duy nhất và độc nhất của Chúa Kitô vượt quá sức lực và khả năng loài người. Vì thế, Thánh Công Ðồng đặt hết hy vọng vào lời Chúa Kitô nguyện cầu cho Giáo Hội, vào tình thương của Chúa Cha đối với chúng ta và vào quyền lực của Chúa Thánh Thần. "Hy vọng không bị hổ thẹn: vì tình yêu của Thiên Chúa giãi khắp lòng ta nhờ Chúa Thánh Thần Ðấng đã được ban cho ta" (Rm 5,5).
 
Tất cả và từng điều đã được ban bố trong Sắc Lệnh này đều được các Nghị Phụ Thánh Công Ðồng chấp thuận. Và dùng quyền Tông Ðồ Chúa Kitô trao ban, hiệp cùng các Nghị Phụ khả kính, trong Chúa Thánh Thần, Chúng Tôi phê chuẩn, chế định và quyết nghị, và những gì đã được Thánh Công Ðồng quyết nghị, Chúng Tôi truyền công bố cho Danh Chúa cả sáng.
 
Roma, tại Ðền Thánh Phêrô, ngày 21 tháng 11 năm 1964.
Tôi, Phaolô Giám Mục Giáo Hội Công Giáo.
Tiếp theo là chữ ký của các Nghị Phụ.
 

Chú Thích:
31* Tĩnh từ "Giáo Hội" (ecclesilis) ở đây là một ngôn từ mới, phát xuất từ giáo phái Tin Lành, chỉ một điều gì liên quan đến Giáo Hội trong tư thế một mầu nhiệm siêu nhiên. Theo dụng ngữ công giáo, tiếng này không bao hàm ý tưởng một Giáo Hội thuần túy vô hình và thiêng liêng. Chữ "thuộc Giáo Hội" (ecclesiasticus) thường chỉ nghĩa diều gì thuộc riêng của Giáo Hội Công Giáo.
32* Sau khi đóng đinh Chúa Kitô, lúc chia nhau y phục của Người, mấy người lính chợt nhận thấy tấm áo dài liền kim không có đường may (Gio 19,23). Ngay từ thời sơ khai Kitô giáo, người ta đã thấy qua tấm áo không đường may này một hình ảnh của Giáo Hội không phân rẽ do Chúa Giêsu Kitô thiết lập. Nhưng thực tế đã có nhiều cộng đoàn Kitô giáo tách rời khỏi Giáo Hội chân thực của Chúa Kitô, và như vậy mở đường cho những cuộc phân ly. Trong chương này, sắc lệnh lưu ý tới hai khối phân ly chính: một ở Ðông Phương và một ở Tây Phương (gồm Tin Lành và Anh Giáo).
33* Công Ðồng Ephêsô (năm 431) đã truyền dạy một cách bất khả ngộ rằng Chúa Giêsu Kitô là một Ngôi Vị đơn nhất, Con Thiên Chúa làm người và Ðức Maria thật sự là Mẹ Thiên Chúa. Phái Nestorianô đã chối bỏ những chân lý ấy và tự tách khỏi Giáo Hội phổ quát.
34* Công Ðồng Calcedonia (năm 451) tuyên bố rằng Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật cũng là Người thật và trong Người có hai bản tính, thần tính và nhân tính, hoàn hảo, phân biệt chứ không hòa trộn lẫn nhau. Song có những cộng đoàn địa phương quả quyết nơi Chúa Kitô chỉ có một bản tính. Ðó là những người theo nhất tính thuyết, họ cũng đã ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo.
35* Sự cắt đứt này đã xảy ra năm 1054 khi Ðặc Sứ của Ðức Giáo Hoàng, Hồng Y Humbert, dứt phép thông công Thượng Phụ thành Constantinopla là Micae Cerulariô. Ðáp lại, Thượng Phụ Cerulariô cũng dứt phép thông công vị Ðặc Sứ đó và tách khỏi Roma. Sự cắt đứt này đã thành toàn diện và dứt khoát vào thế kỷ XIII. Ngày 7 tháng 12 năm 1965 tại Roma, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI và tại Constantinopla Ðức Thượng Phụ Athenagoras long trọng hủy bỏ sự dứt phép thông công lẫn nhau ấy.
36* Giáo Hội riêng biệt là một cộng đoàn hay một giáo khu gồm mọi tín hữu cùng theo một lễ chế phụng vụ, cùng giữ một quy luật giáo hội và cùng chịu một quyền quản trị như nhau. Chỗ này chữ "địa phương" hiểu theo nghĩa rộng, vì một Giáo Hội riêng biệt có các tín đồ ở rải rác nhiều nơi.
37* Giáo Hội này là một Giáo Hội riêng biệt mà thủ lãnh là một thượng phụ như Giáo Hội Nga, Giáo Hội Constaninopla... Hiện nay, có ít nhất là 9 Giáo Hội có Thượng Phụ thuộc Ðông Phương ly khai.
38* Vì dụ như Giáo Hội Giêrusalem và Antiokia.
39* Những Giáo Hội Ðông Phương ly khai sống độc lập nhau. Họ coi nhau như những Giáo Hội huynh đệ, không có và không nhận một thủ lãnh chung trên họ. Trái lại, những Giáo Hội riêng biệt (địa phương) Công Giáo lại có cùng một thủ lãnh cao cấp chung: Ðức Giáo Hoàng. Ngài có quyền trên tất cả các Giáo Hội Công Giáo riêng biệt Ðông phương cũng như Tây Phương.
40* Những điều này quy chiếu về thời các Giáo Hội này còn liên kết với Roma. Lúc ấy, 7 Công Ðồng Chung đầu tiên đều nhóm họp ở phương Ðông.
41* Giáo Hội Ðông Phương càng phát triển, những người Tây Phương càng ít cảm thông tâm thức Ðông Phương, cũng như ngược lại; sự kiện đó đưa tới nhiều hiểu lầm và khi thị đáng tiếc ở cả hai bên và khích động thêm sự chia rẽ
42* Ðoạn này đề cập đến những Giáo Hội Ðông Phương không công giáo (ly khai), không nói về các Giáo Hội liên kết với Roma. Công Ðồng đã công bố một sắc lệnh đặc biệt bàn tới những Giáo Hội Công Giáo Ðông Phương nhan đề "Giáo Hội Công Giáo Ðông Phương".
1 Xem T. Gioan Kim Khẩu, In Joanem, Homelia, XLVI: PG 59,260-262.
43* Những tiêu chuẩn về sự tham dự hỗ tương trong các sinh hoạt tôn giáo này đã được trình bày cặn kẽ trong sắc lệnh về những Giáo Hội Công Giáo Ðông Phương (số 26-29).
44* Toàn thể Giáo Hội chính là Giáo Hội phổ quát Công Giáo, Giáo Hội duy nhất Chúa Kitô sáng lập. Lúc Ðông Phương còn liên kết với Tông Tòa Roma, những Giáo Hội riêng biệt Ðông Phương đã hưởng dụng một quyền tự trị thật đáng kể. Ðức Giáo Hoàng ít khi can thiệp vào việc quản trị của họ. Sắc lệnh tuyên bố rằng quyền tự trị ấy vẫn được duy trì nếu họ liên kết lại với Giáo Hội phổ quát. Sự liên kết này bao hàm việc thừa nhận tối thượng quyền nơi Ðức Giáo Hoàng kế vị thánh Phêrô, Ðại Diện tối cao của Chúa Kitô. Tuy nhiên việc thừa nhận ấy vẫn dung hợp tốt đẹp với một quyền tự trị rất lớn của các Giáo Hội riêng biệt.
45* Nói về những Giáo Hội Công Giáo Ðông Phương, nghĩa là có liên kết với Roma.
46* Những dự tính liên kết giữa Ðông Phương và Giáo Hội Công Giáo của Công Ðồng Lyon II và Công Ðồng Firenze đã thất bại, bởi vì tâm thức tín hữu đông phương ly khai lúc ấy chưa được chuẩn bị sẵn để đón nhận việc liên kết. Ở đây sắc lệnh nhắm tới việc chuẩn bị tinh thần và thiêng liêng cho các dân tộc Kitô Giáo Ðông Phương hầu đạt đến một mối liên kết tốt đẹp.
47* Ðây là những người Ðông Phương không công giáo di trú trong nhiều miền khác nhau tại Âu Châu, Mỹ Châu. Việc họ tiếp xúc với người công giáo tại đó có thể giúp đôi bên xích lại dần nhau dễ dàng hơn.
2 Xem CÐ Firenze, khóa VI (1439), Ðịnh tín Laetentur caeli: Mansi 31, 1026E.
48* Trong số này Sắc Lệnh chứng tỏ rằng có nhiều điểm dị biệt giữa anh em "ly giáo" tây Phương và Giáo Hội Công Giáo hơn là giữa Ðông Phương ly khai và Công Giáo Tây Phương. Do đó việc liên kết càng khó khăn hơn, tuy thế cũng cần phải mở một cuộc đối thoại. Trong những số tiếp theo, Sắc Lệnh nêu lên một vài học thuyết chung có thể làm khởi điểm cho cuộc đối thoại ấy.
49* Do lời yêu cầu Ðức Phaolô VI, người ta thay đổi hai điểm trong câu này. Thay vì tiếng "được tác động bởi Chúa Thánh Thần" bây giờ đổi lại thành "Nhờ cầu khẩn Chúa Thánh Thần", và chữ "họ tìm" thay thế cho "họ gặp thấy". Sở dĩ thay đổi như vậy là cốt tránh dáng vẻ chấp nhận giáo thuyết của những người cải cách. Theo giáo thuyết này, mọi tín hữu đều được Chúa Thánh thần ban cho đầy đủ ánh sáng để hiểu thấu ý nghĩa mạc khải của Thánh Kinh và để nhờ thế gặp thấy Thiên Chúa trong Sách Thánh, không cần nhờ đến quyền Giáo Huấn của Giáo Hội. Thực sự, người ta có thể gặp được Thiên Chúa trong Sách Thánh; nhưng không gặp Ngài một cách tất nhiên và trong bất cứ lúc nào; lý do là vì những ngăn trở về tâm tính chủ quan người ta có thể không gặp thấy Ngài.
3 Xem Rm 6,4.
50* Những cộng đoàn giáo hội Tin Lành không có bí tích Truyền Chức Thánh. Vì thế, các thừa tác viên của họ không có quyền thánh hiến bánh rượu thành Mình Máu Chúa Kitô. Lễ tiệc ly Tin Lành không bao hàm sự hiện diện thật sự; nó không phải là một hy lễ đích thực. Do đó, anh em Tin Lành đã không bảo tồn được "bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể". Công thức này đã được Ðức Phaolô VI minh nhiên ưng thuận.
51* Giáo Phụ là những văn sĩ công giáo thuộc thời kỳ đầu của Giáo Hội, từ thế kỷ I thới thế kỷ VIII.
52* Ðoạn này bộc lộ niềm hy vọng vào tương lai. Ðường lối của Chúa Quan Phòng thật lạ lùng. Người ta không thể biết trước những ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy. Tuy nhiên, mỗi tín hữu nói riêng và mỗi cộng đồng nói chung phải luôn luôn tuyệt đối vâng theo Chúa Thánh Thần.  
 
VỀ MỤC LỤC
Nguồn: http://www.kinhthanhvn.org/viewItem.jhtml?itemId=9236
Suy niệm chú giải Chúa nhật XXX thường niên A: Điều răn trọng nhất
Lm PX. Vũ Phan Long
Bản văn có thể chia thành ba phần: 1) Câu chuyển tiếp: Người Pharisêu quy tụ lại (22,34); 2) Câu hỏi về điều răn trọng nhất: mục tiêu và nội dung (22,35-36); 3) Câu trả lời của Đức Giêsu (22,37-40).
Sự liên kết giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người thân cận, đồng thời sự khác biệt giữa hai tình yêu đó, giúp ngăn cản một sự tách biệt giữa tôn giáo và xã hội, giữa bản tính bên trong và đời sống bên ngoài.
1.- Ngữ cảnh
Trong cấu trúc văn chương của TM Mt, đoạn văn 22,34-40 phải được coi như một bài tường thuật về một cuộc tranh luận nữa của Đức Giêsu với các đối thủ, là các đại diện Do Thái giáo chính thức. Họ tìm cách gài bẫy Đức Giêsu bằng chính những lời nói của Người (cc. 15 và 35) về những vấn đề ngày càng thêm quan trọng: nộp thuế cho Xêda, là vấn đề đặt đối lập các nhóm Hêrôđê, Pharisêu và Nhiệt Thành (Quá Khích) với nhau; sự sống lại của kẻ chết, là vấn đề được phái Xađốc đặt ra; điều răn lớn nhất, là mối bận tâm của người Do Thái tuân thủ luật Môsê nghiêm nhặt, tức phái Pharisêu. Các vấn đề ấy được đặt ra cho một vị Rabbi: “Thưa Thầy” (didaskale; x. cc. 15.24.36); đây là danh hiệu cho thấy là họ hiểu Đức Giêsu đứng vào vị trí nào. Vấn đề cuối cùng được chính Đức Giêsu nêu ra sẽ là vấn đề “con vua Đavít” (22,41-46). Đây là bốn vấn đề thường được người Do Thái thời Đức Giêsu tranh luận nhiều nhất.
Có lẽ bản văn hôm nay cũng phác lại một cuộc gặp gỡ nào đó giữa Đức Giêsu và một vị tôn sư của Do Thái giáo; vị này hẳn là muốn làm sáng tỏ hoặc đào sâu các điều răn. Ở Mc 12,28-34 và Lc 10,25-28, ta không thấy có giọng điệu bút chiến như ở bản văn Mt (x. c. 34). Riêng trong bản văn Mt, vị thông luật hỏi là để “thử” Đức Giêsu.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Câu chuyển tiếp: Người Pharisêu quy tụ lại (22,34);
2) Câu hỏi về điều răn trọng nhất: mục tiêu và nội dung (22,35-36);
3) Câu trả lời của Đức Giêsu (22,37-40).
3.- Vài điểm chú giải
- Điều răn nào là điều răn trọng nhất (36): Do Thái giáo vẫn đang đi tìm một nguyên tắc thống nhất. Các kinh sư cũng tìm cách xác lập một hệ thống tổng hợp với các đường hướng chủ đạo: Đavít xác định mười một điều (Tv 15,2-5), Isaia sáu (Is 33,15), Mikha ba (Mk 6,8), Amốt hai (Am 5,4), và Khabacúc một (Kb 2,4). Đây là bản tóm lược của Rabbi Simbai (tk iii).
- yêu mến (37): Động từ Híp-ri ’âhav có một loạt ý nghĩa, từ tình yêu tính dục đến tình yêu đới với người trong gia đình, đối với bạn bè, sự trung thành trong đời sống chính trị đến tình yêu đối với Thiên Chúa. Theo cách giải thích của người Do Thái về Đnl 6,5, “tình yêu đối với Thiên Chúa” được diễn tả trước tiên bằng những hành vi vâng phục, trung thành với Torah. Yêu mến Thiên Chúa là hy sinh mạng sống vì các điều răn của Người.
- hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn (37): Theo nhân học Híp-ri, “trái tim” (lòng) là cơ sở của tình cảm; còn “linh hồn” là phương diện sinh lực của con người. “Trí khôn” (dianoia) là từ Hy Lạp cũng có ý nghĩa như “trái tim” theo ngôn ngữ Híp-ri. Tác giả Mt đã lấy từ Mc 12,30 (“lòng, linh hồn, trí khôn và sức lực”), nhưng bỏ “sức lực” và chọn giữ lại “trí khôn” để có bộ ba. Cả ba danh từ này được dùng theo nghĩa tổng hợp: tình yêu đối với Thiên Chúa phải trọn vẹn, huy động tất cả con người, thậm chí phải chết.
- yêu người thân cận (39): Ngữ cảnh của Lv 19,11-18 là như sau: Đây là những điều khoản luân lý căn bản của Thiên Chúa liên hệ đến người thân cận, kể cả người yếu thế về mặt xã hội hoặc một đối thủ tại tòa án. Song song với “yêu” là: không trộm cắp, cư xử sai lệch, nói dối, thề gian, lừa gạt, cướp đoạt, nguyền rủa, xét xử bất công, vu khống, thù ghét. Lv 19,34 thêm: không vi phạm quyền lợi của tha nhân.
- thân cận (39): Theo bản văn căn bản Lv 19,18 và theo hầu như cách giải thích Lv 19,18 của toàn thể Do Thái Paléttina, “thân cận” (đồng loại) đây là người Israel mà thôi, những người đã được Thiên Chúa ban Lề Luật cho. Chỉ những người ngoại quốc đang sống tại đất Israel, cũng đước áp dụng một nền công lý này, mới được kể vào số “người thân cận” (Lv 19,34); sau này, chỉ những người dự tòng mới được coi như thế. Đức Giêsu theo truyền thống Mt đã mở rộng nghĩa của từ ngữ này mà áp dụng cho tất cả mọi người (x. Mt 5,43-48; 7,12; 19,19).
- Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ (40): Đức Giêsu không chỉ đặt hai điều răn này đứng đầu 613 quy định của Luật Môsê, như thể ở bên cạnh các quy định ấy; Người còn làm thành một tổng hợp. “Luật và các Ngôn sứ” là cách gọi tên bộ Kinh Thánh Do Thái (tức Cựu Ước thu hẹp), cũng có thể hiểu là ý muốn của Thiên Chúa đã được ghi giữ trong Kinh Thánh.
4.- Ý nghĩa của bản văn
* Câu chuyển tiếp: Người Pharisêu quy tụ lại (34)
Bản văn hôm nay vẫn nằm trong chiều hướng các cuộc tranh luận các nhóm đại diện Do Thái giáo chính thức gây ra với Đức Giêsu. Tuy vậy, các hoàn cảnh tiêu cực này vẫn không ngăn cản Đức Giêsu cống hiến những mạc khải hoặc giáo huấn quan trọng.
Để đáp lại tin tức về sự thất bại của phái Xađốc, người Pharisêu đã họp nhau lại.
* Câu hỏi về điều răn trọng nhất (35-36)
Một người thông luật trong nhóm đã hỏi để “thử” (peirazôn) Người (c. 35), như họ đã từng làm (x. Mt 22,15.18). Tuy nhiên, câu hỏi này cũng có lý do của nó: các trường phái và các vị thầy Israel vẫn đang cống hiến những lối phân phối và giải thích Lề Luật (Torah) khác nhau. Họ đã phân tích Luật ra thành 613 điều khoản khác nhau. Các kinh sư đã chọn chủ trương giữ luật thật chi li (“vị luật”). Xu hướng vị luật tỉ mỉ này làm phát sinh khi thì niềm vui do tuân giữ được trọn vẹn các điều khoản, khi thì sự tự mãn kiểu Pharisêu (x. Lc 15,29), khi thì sự lo lắng vì không tuân giữ được tất cả (x. Mt 19,18). Dù sao, cần phải tìm ra một nguyên tắc thống nhất giúp người ta biết định hướng trong cuộc đời và nhất là biết cách quyết định trong các chọn lựa thực tiễn. Vì thế, câu hỏi của vị thông luật để “thử” Đức Giêsu có lý do: không chỉ là một tranh luận lý thuyết nhà trường, nhưng cũng có một nhu cầu thực tế. Bởi vì có khi họ đã phải chỉ cho biết những điều răn nào không được vi phạm, cho dù người ta có bị giết, hoặc phải dạy điều gì là quan trọng nhất đối với Lề Luật và các điều răn này dẫn xuất từ các điều răn khác thế nào. Vì vậy, họ có nói tới một kơlal (tiếng Híp-ri có nghĩa là phổ quát tính, nguyên tắc căn bản, tóm tắt, danh hiệu) và một guph (tiếng Híp-ri có nghĩa là phần thân, phần cốt yếu) trong Lề Luật.
* Câu trả lời của Đức Giêsu (37-40)
Câu trả lời của Đức Giêsu cũng chẳng độc đáo, dù là trong lời nhắc lại giới răn tình yêu đối với Thiên Chúa, hay trong lời nhắc nhớ về tình yêu đối với người thân cận. Cả hai điều răn này đều được nói đến trong Lề Luật, và bất cứ người Israel tốt lành nào cũng đều ghi nhớ mà tuân giữ. Đức Giêsu đã chỉ làm một việc là trích sách Đệ nhị luật (6,4-5) và Lêvi (19,18). Nếu có lạ là ở chỗ Người đã đặt hai điều răn này ngang hàng với nhau: “cũng giống” (homoia) có nghĩa là điều răn thứ hai cũng đáng được quan tâm tuân giữ như đối với điều răn thứ nhất, tức là Người nối kết hai điều răn với nhau và dành cho chúng vị trí cao nhất. Hơn nữa, Đức Giêsu còn tuyên bố rằng “tất cả Luật (Môsê) và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy”, có nghĩa là hai điều răn này diễn tả trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa trong Kinh Thánh, do đó hàm chứa tất cả mọi điều răn khác, hay là tất cả các điều răn khác quy về hai điều răn này. Như thế yêu mến người thân cận có nghĩa là phải dành cho người thân cận một sự chăm sóc, một tình yêu y như dành cho Thiên Chúa. Nói cách khác, người thân cận cũng phải được yêu mến “hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn”. Không cần phải phân biệt giữa ba từ ngữ này, bởi vì hy-ngữ thường dùng hai từ “trái tim” và “trí khôn” để dịch từ lev Híp-ri (= trái tim). Câu văn có nghĩa là phải vận dụng tất cả bản thân mà yêu mến Thiên Chúa.
Như vậy, câu trả lời của Đức Giêsu đã rõ. Phải yêu mến người khác với trọn vẹn bản thân mình, tức là trong thực tế không chỉ bằng lời nói, còn về phương diện con người, bằng cách giúp đỡ tận tình, nồng nhiệt. Cách đặt ngang hàng hai điều răn như thế, chúng ta đã thấy trong Bài Giảng trên núi, trong đó Đức Giêsu mời gọi người ta làm hành vi phượng tự sau khi đã giao hòa với người anh em (5,23-24) và yêu mến cả kẻ thù như Thiên Chúa yêu họ (5,44-48).
Có thể nói ở c. 40, tác giả Mt tóm tắt cái nhìn của ngài về hai điều răn trọng nhất. Công thức “ Luật (Môsê) và các sách ngôn sứ” đưa chúng ta trở lại với hai đoạn trung tâm ở 5,17 và 7,12. Ở đó, bản văn nói rằng Đức Giêsu làm trọn Lề Luật và các ngôn sứ, và cả hai khối này tập trung vào hoàng kim quy tắc. Như vậy, c. 40 hàm ý là Lề Luật và các sách ngôn sứ được hoàn tất qua Đức Giêsu. Đồng từ “tùy thuộc vào” (kremannymi en) cho chúng ta biết quan niệm của tác giả Mt về Lề Luật. Hai điều răn này, cũng như hoàng kim quy tắc, chính là nguyên tắc căn bản hướng dẫn việc giải thích bài Giảng trên núi, cũng như Lề Luật và các sách ngôn sứ.
+ Kết luận
Câu trả lời của Đức Giêsu không phải là câu trả lời của một kinh sư, dù Người được các người Pharisêu coi như thế. Đây là câu trả lời của vị Chúa Tể Lề Luật. Chính Người công bố Luật và chính Người hoàn tất Luật (x. 5,17). Chính do sự kiện Đức Giêsu hoàn tất Luật mà Người mang lại cho Luật tính chất mới mẻ đích thật. Tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân không phải chỉ là những thái độ con người bị buộc phải có; hai tình yêu này nhập thể nơi bản thân Đức Giêsu. Chính vì Người đã đến dùng cuộc đời, cái chết và sự sống lại của Người mà hoàn tất “Luật và các Ngôn sứ”, mà Người có thể công bố với giọng uy quyền rằng toàn thể Giao ước cũ đều “tùy thuộc” vào việc yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Chính nơi Người mà không những Lề Luật, dưới dạng điều răn, mà cả lời hứa ân phúc, được các Ngôn sứ loan báo, đã được thực hiện trọn vẹn.
5.- Gợi ý suy niệm
1. Khi tuyên bố về điều răn trọng nhất (“hai trong một”), Đức Giêsu đã công bố sự giải phóng tuyệt vời cho con người. Bây giờ, ta chỉ còn phải tuân giữ hai điều mà thôi. Người nào chu toàn thật sự những gì được yêu cầu trong hai điều răn này thì có thể chắc chắn là đã hoàn tất Lề Luật và thực hiện ý muốn của Thiên Chúa (x. Mt 7,12; Gl 5,14; Rm 13,8-10). Đây chính là điều Thiên Chúa nhắm khi tạo thành con người. Họ được tạo nên để vâng phục Thiên Chúa như chủ và chúa của mình, và cũng để yêu thương Người như cha của mình. Thế mà sự vâng phục chỉ nên trọn vẹn trong tình yêu mà thôi.
2. Người thân cận không phải chỉ là người thuộc về cùng một dân tộc, ở trong cùng một quốc gia, nói cùng một ngôn ngữ. Bất cứ ai cũng có thể là người thân cận của tôi, nhưng không phải lúc nào cũng thế. Tránh né luật yêu thương bằng cách nói đến những người thân cận ở xa, để lơ đi những người ở bên mình đang cần được mình quan tâm, là một cám dỗ dễ rơi vào. Chính tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta phải là mẫu mực cho tình yêu của con người đối với nhau.
3. Yêu thương anh em không phải chỉ bởi vì Thiên Chúa yêu cầu, để vâng lời Thiên Chúa. Liên hệ giữa hai tình yêu này không phải là một liên hệ pháp lý, võ đoán, mà là liên hệ nội tại: ta không thể yêu mến Thiên Chúa nếu không yêu thương anh em. Trong khi yêu thương người khác vì chính họ, ta yêu mến Thiên Chúa vì chính Người. Chỉ có một tình yêu duy nhất, vì con người chỉ có một con tim. Ta có thể suy ngẫm lại bài thánh ca đức mến của thánh Phaolô để thêm xác tín về điểm này (1 Cr 13,4-6).
4. Sự liên kết giữa tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với người thân cận, đồng thời sự khác biệt giữa hai tình yêu đó, giúp ngăn cản một sự tách biệt giữa tôn giáo và xã hội, giữa bản tính bên trong và đời sống bên ngoài. Yêu mến bản thân mình có thể được nhờ tình yêu đối với Thiên Chúa; chính tình yêu đối với Thiên Chúa đưa tới chỗ không tuyệt đối hóa bản thân, mà lại có một sự nội tâm hóa mới, đồng thời có một tình yêu nồng nàn hơn đối với người thân cận.
 
VỀ MỤC LỤC
 
   
  
 


CHÚA NHẬT XXX  THƯỜNG NIÊN A
(Xh 22:21-27; 1Tx 1:5c-10; Mt 22:34-40)
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD
Bài đọc sách Xuất Hành ( Xh 22:21-27) và bài Phúc Âm thánh Mathieu hôm nay nói về giới răn quan trọng nhất (Mt 22:34-40): Mến Chúa và Yêu người. Bài đọc sách Xuất Hành nhắc lại một số điều luật về cô nhi quả phụ và người nghèo khó. Thiên Chúa nhắc nhở dân người rằng đã có thời các ngươi là người ngoại quốc sống trên đất khách. Đối với người ngoại quốc, cô nhi quả phụ và người nghèo khổ, chúng ta phải lấy công minh và thương cảm mà đối sử. Nếu không Thiên Chúa sẽ luận phạt nghiêm ngặt để bảo vệ kẻ cô thế.
Thiên Chúa thì nghiêm minh trước thái độ tiêu cực và hành động của chúng ta đối với tha nhân, đặc biệt người nghèo khó, kẻ xa lạ, những người kém may mắn và khác biệt với chúng ta. Niềm tin đích thực, tình yêu Chúa và mối liên hệ giữa chúng ta và Chúa Kito được định giá ở cung cách chúng ta đối sử với tha nhân. Hai bài đọc hôm nay thúc giục chúng ta hãy thống hối và xin tha thứ vì những thái độ tiêu cực cũng như những hành động trái phép của chúng ta đối với họ. Bài Phúc Âm hôm nay chính là lời cầu căn bản của kinh Shema (lời tuyên xưng đức tin của người Do Thái): “Hãy nghe đây, hỡi Israel, Thiên Chúa của chúng ta là Chúa duy nhất” (Tl 6:4). Giống như chúng ta tuyên xưng niềm tin của chúng ta nơi chúa Kito bằng kinh Tin Kính thì người Do Thái tuyên xưng niềm tin của họ bằng kinh Shema trong các giờ lễ của họ ở nhà nguyện. Kinh Shema là bản tóm tắt nói lên một tôn giáo đích thực: “Hãy nghe đâyhỡi Israel. Thiên Chúa của chúng ta là Chúa duy nhất; ngươi hãy yêu mến Chúa của các ngươi hết lòng, hết trí, hết sức của các ngươi”(Tl 6:4-5). Bài Phúc Âm của Mathieu (Mt 22:34-40) đi song hành với bài cùa của Marco (Mc 12:28-34) diễn tả cuộc đối thoại giữa đức Giesu và một kinh sư. Đức Giesu đã làm ông ta phải ngạc nhiên và nể sợ vì Người đã nắm vững cuộc hội thoại gây nhiều tranh cãi. Đức Giesu đã khen ngợi nhà thông luật đó và nói: “Nước Thiên Chúa không còn ở xa ông đâu.”(Mc 12-34). Mathieu về sau đã khai triển quang cảnh này rộng hơn.
Các người biệt phái là những nhà kinh điển, họ thông suốt luật lệ và coi luật là túi khôn và là điều duy nhất cần phải học hỏi. Các kinh sư thường nắm vị thế lãnh đạo trong cộng đồng Do Thái và rất được nể trọng.
Các thầy dạy luật Torah ( kinh sư và rabbis) luôn luôn tranh cãi về tính  tương đối của các giới luật trong Cựu Ước. Họ là những học giả và nhà trí thức của Do Thái Giáo. Các biệt phái đã xác định được 613 giới răn trong luật Torah (5 sách đầu của Kinh Thánh). Trong số 613 điều thì 248 điều có tính tích cực:“Ngươi phải làm” và 365 điều có tính tiêu cực “Ngươi không được làm”. Câu hỏi của một học sĩ tỏ ra khá thành thật. Họ hỏi đức Giesu để thử Người là “Giới răn nào là giới răn đầu và quan trọng nhất?” Đức Giesu trả lời bằng cách dẫn chứng sách Thứ luật (Tl 6:4-5) và kinh Shema mà người Do Thái vẫn đọc hàng ngày. Dù họ hỏi Chúa chỉ một điều răn, nhưng Chúa đã trả lời họ hai điều liên kết lại với nhau, Chúa đã vượt quá câu hỏi của họ là liên kết điều thứ nhất và quan trọng nhất với điều thứ hai đã có trong sách Levi: “Hãy yêu người lân cận mình như chính mình”(Lv 19:18). Hai điều luật này là nguồn gốc phát sinh ra toàn thể bộ luật và các lời tiên tri.  Chúa Giesu đã không trừ bỏ một điều luật nào cả. Người nói thêm rất rõ ràng là: “Tất cả luật lệ và lời các ngôn sứ đều nằm ở hai điều răn này” (Mt 22:40). Ở điểm này, Marco cho biết vị học giả đã tỏ ra đồng ý với đức Giesu và khen ngợi Người (Mc 12:33-34). 
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ Ý TƯỞNG TIÊN KHỞI CỦA ĐỨC GIESU
Mến Chúa Yêu Người không phải là ý tưởng tiên khởi của chúa Giesu. Nó có từ lâu đời trong Kinh Thánh Hebrew (Do Thái). Tuy nhiên ý tưởng duy nhất và tuyệt hảo của chúa Giesu là “Chúng ta không thể làm điều này mà không làm điều kia”. Yêu người hàng xóm / tha nhân được thúc đẩy, khuyến khích bởi Yêu Thiên Chúa. Yêu Thiên Chúa được chứng tỏ và mạnh mẽ bởi yêu mến người hàng xóm / tha nhân. Yêu người hàng xóm cũng không phải là yêu vì đòi hỏi của tình yêu Thiên Chúa, một hoàn thành xuất phát từ tình yêu Thiên Chúa, nhưng -ở một ý nghĩa nào đó- nó cũng là một điều kiện tiên thiên. Không thể có tình yêu Chúa thực sự mà tự nó đã không phải là tình yêu tha nhân và, tình yêu Thiên Chúa gặp gỡ đúng với bản thể của tình yêu Thiên Chúa qua việc hoàn chỉnh tình yêu tha nhân. 
GIÁO HUẤN CỦA MAISEN VÀ ĐỨC GIESU 
Giảng huấn của Maisen nằm trong kinh Shema (Tl 6:5; Lv 19:34) được đức Giesu xác định lại trong bài Phúc Âm hôm nay, là tất cả mọi giới răn được tóm gọn trong giới răn Mến Chúa và Tử Tế với những người hàng xóm. Mỗi khi người Do Thái đọc kinh Shema và người Kito hữu nhớ lại hai điều răn thứ nhất và thứ hai thì, chúng ta nhờ ân sủng của Thiên Chúa, được xích lại gần nhau hơn. Khi nào chúng ta làm dấu Thánh Giá, là chúng ta vạch dấu Shema lên thân xác chúng ta, như đụng vào đầu, vào trái tim và vào vai chúng ta và thề hứa sẽ phục vụ Thiên Chúa. 
THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU
Dựa vào ý nghĩa những bài kinh thánh hôm nay, tuần này chúng ta cùng nhau suy niệm về hai vấn đề.
*Thứ nhất số # 42 trong Ánh Sáng Muôn Dân / Lumen Gentium, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội của công đồng Vatican II.
“Thiên Chúa là Tình Yêu, là đấng ẩn mình trong tình yêu, trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong Người.” Nhưng Thiên Chúa đổ tình yêu người tràn ngập chúng ta qua Chúa Thánh Thần là đấng Thiên Chúa ban cho chúng ta. Đó là tặng vật đầu đời và cần thiết nhất, nhờ đó mà chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu thương tha nhân vì Thiên Chúa. Thực vậy, để cho tình yêu ấy, như là hạt giống tốt, có thể nảy mầm và sinh hoa trái trong tâm hồn, rồi mỗi một tín hữu đó phải thiết tha lắng nghe Lời Chúa, chấp nhận Thánh Ý Chúa và hoàn thành điều mà Thiên Chúa đã khởi đầu bằng chính những hành động của họ với sự giúp đỡ của hồng ân Thiên Chúa. Những hành động này bao gồm việc sử dụng các phép bí tích, đặc biệt bí tích Thánh Thể, thường xuyên tham dự những nghi lễ phụng vụ, áp dụng vào việc cầu nguyện, hãm mình, phục vụ người anh em một cách cụ thể và liên tục thực hành các nhân đức. Vì bác ái -như một sợi dây liên kết giữa sự hoàn hảo và chu toàn luật lệ- đã điều khiển mọi phương cách để đạt sự thánh đức và ban sinh sự sống cho chính những  phương cách ấy. Chính đức ái sẽ hướng dẫn chúng ta đến đích sau cùng. Chính tình yêu Thiên Chúa và tình thương tha nhân biểu hiện người môn đệ đích thực của Chúa Kito.
*Thứ hai: Phần mở đầu Thông Điệp đầu tiên của Đức Biển Đức XVI Thiên Chúa là Tinh Yêu / Deus caritas est phát hành năm 2005, đã tóm gọn rất tuyệt với bài Kinh Thánh hôm nay:
Là Kito hữu không phải là kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một tư tưởng cao siêu, nhưng là điểm gặp gỡ của một biến cố và một nhân vật đã ban cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi nhất định (….) Hiểu biết được chính điểm của tình yêu thì niềm tin kito giáo sẽ giữ lại được cốt lõi của niềm tin Israel, đồng thời làm cho nó có một chiều sâu và bề ngang mới. Người Do Thái đạo đức cầu nguyện hàng ngày bằng những lời trong sách Thứ Luật là sách diễn tả sự hiện hữu của con tim: “Hãy nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa của Thiên Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, ngươi sẽ yêu Chúa của ngươi  hết tâm hồn hết trí khôn và hết sức ngươi” (Tl 6:4-5). Đức Giesu đã kết hợp điều răn mến Chúa và Yêu người như đã có trong sách Levi:“Ngươi sẽ yêu người láng giềng như chính ngươi”(Lv 19:18; Mc 12:29-31) thành một cảm nhận đơn giản. Vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước (1Ga 4:10), nên tình yêu bây giờ không còn là một giới răn đơn thuần nữa; mà là một đáp lễ trả lại cho tặng vật tình yêu mà nhờ đó Thiên Chúa đã đến gần chúng ta.
 CHÂN  PHƯỚC TERESA THÀNH  CALCUTTA: MUỐN CHO THÌ PHẢI CÓ.
Hiện nay có một số người Công Giáo tốt tự xưng là “ngôn sứ” khi họ nắm giữ những vấn đề công lý xã hội trong Giáo Hội. Trong khi giữ những nhiệm vụ quan trọng về công lý xã hội trong truyền thống Công Giáo như TGM Oscar Romeo và Dorothy Day, họ thường tỏ ra tiêu cực đối với Mẹ Teresa thành Calcuta, cho rằng mẹ không bao giờ đề cập đến “hệ thống ma quỉ” ở thời đại ngày nay. Họ nói rằng mẹ không bao giờ đưa vấn đề ngôn sứ  ra để tranh luận và, mẹ đơn thuần chỉ đóng một vai trò gương mẫu an bình trong một Giáo Hội mà nam giới là chủ động!
Đối với tôi, điều làm tôi khâm phục và cảm kích là Mẹ Teresa và các chị em của mẹ nói về Yêu Chúa và Yêu tha nhân, chia sẻ sự “nghèo khổ”; nó vượt lên trên những cái gọi là luận lý của nhiều tổ chức, cơ quan của chúng ta ngày nay chỉ thích những chương trình cho người nghèo có tính chính trị  thay vì  thông công một cách sâu sắc với từng cá nhân con người nghèo khổ.                            
Điều mà Giáo Hội để ý đến nơi các thánh và các chân phước không chỉ những công việc vĩ đại –như giải Nobel Hòa Bình hay những giải thưởng quốc tế khác- mà là những việc làm cụ thể, qua đó các thánh, các chân phước đã biến đổi cả bên trong lẫn bên ngoài nhờ hồng ân Thiên Chúa và cách áp dụng giới răn Mến Chúa Yêu Người.
Một ngạc nhiên nữa là tôi đã trông thấy một tấm thiệp của Mẹ Teresa. Nó không giống như bất cứ một tấm thiệp nào khác, không địa chỉ, không số điện thoại, không số FAX, không Email, chỉ vỏn vẹn những hàng chữ như sau: 
The fruit of silence is PRAYER,
The fruit of prayer is FAITH,
The fruit of faith is LOVE,
The fruit of love is SERVICE,
The fruit of service is PEACE,
God bless you. Mother Teresa.
 
Hoa trái của Yên Lặng là CẦU NGUYỆN,
Hoa trái của Cầu Nguyện là NIỀM TIN
Hoa trái của Niềm Tin là TÌNH YÊU,
Hoa trái của Tình Yêu là PHỤNG SỰ,
Hoa trái của Phụng Sự là AN BÌNH,
Xin Chúa chúc lành cho bạn.
Mẹ Teresa.
 Ngày nay, chúng ta không cần bất cứ tin tức gì để liên lạc với Mẹ, vì Mẹ luôn luôn sẵn sàng cho chúng ta qua sự hiệp thông của các Thánh.
Xin Mẹ Teresa thành Calcutta cầu bầu cho chúng con, dạy chúng con cách mến Chúa và yêu người trong hợp nhất và hòa điệu.
Cũng nên nhớ lời Mẹ dặn: Muốn Cho thì phải Có
Fleming Island, Florida
Oct. 21, 2014
Fxavvy@aol.com
NTC
VỀ MỤC LỤC

Chúa ban lề luật cho dân Israen tóm lại trong Mười giới răn và Chúa sai các Tiên tri (ngôn sứ) rao giảng cho dân biết để dân tuân giữ các Giới răn tức là biết và sống theo Thánh ý Chúa ,nhất là giới răn thứ nhất, chống lại đa thần, ngoại thần. Vì thế, người Israen bao gồm lề luật và Thánh Ý Chúa trong câu thành ngữ “Lề luật và các Tiên tri” để dạy nhau giữ đúng Luật Chúa.
Dần dần, nhóm Ký lục và Biệt phái kê khai chi tiết thành 613 khỏan luật, gồm có 265 khoản cấm làm và 248 điều phảii làm. Rồi các giáo sĩ gỉải thích : ai phạm mọi khỏan luật là vi phạm Giao ước, vi phạm lề luật. Càng ngày họ càng giải thích nhặt hơn : ai vi phạm một khoản luật mà thôi thì vi phạm Giao ước và luật lệ.
Giải thích như thế, người ta phải kết luận : mọi khoản luật đều có tầm quan trọng như nhau. Kết luận như vậy, các nhà luật học Israen và Biệt phái không khỏi băn khoăn về địa vị các giới răn. Xem mọi khoản luật đều có tầm quan trọng như nhau thì giới răn nào ở địa vị cao nhất đây ? Họ luôn luôn bàn cãi, cũng như luôn luôn cãi nhau, tranh luận với nhau về vấn đề nộp thuế cho hoàng đế Roma, vấn đề kẻ chết sống lại, vấn đề Con Vua Đavid, vấn đề ly dị với bất cứ lý do nào.
Cũng những vấn đề đó, nhóm Biệt phái cử một người giỏi luật lên tiếng hỏi Chúa Giêsu : “Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất ?”. Chúa trả lời : “Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống như giới răn ấy là : ngươi hãy yêu thương kẻ tha nhân như chính mình ngươi. Toàn thể Lề luật và các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó. (xem Mathêu  22,  34-40)
Câu trả lời thật rõ ràng : giới răn ở địa vị trọng nhất, ở địa vị trên hết mọi giới răn là giới răn mến Chúa hết sức lực con người của mình và trên hết mọi sự. Giới răn thứ hai không ở địa vị trọng nhất và trên hết mọi giới răn như giới răn thứ nhất nhưng mức độ quan trọng, thiết yếu thì quan trọng và thiết yếu như giới răn thứ nhất.
Giáo huấn của Chúa Kitô có tính cách mới mẻ vì Ngài đưa ra hai giới răn tóm lại mọi giới răn, mọi lề luật. Thực hiện hai giới răn đó là đã thực hiện trọn vẹn Lề Luật và lời các Tiên tri. Lại nữa, hai giới răn đó đặt nền tảng trên tình yêu chứ không trên bình diện thuần lý pháp luật, đặt nặng trên thực hành chứ không phải trên lý tuyết suông, có nội dung phong phú chứ không chuộng hình thức suông, đòi hỏi sự thành thực, loại bỏ dối trá.
Lòng mến, tình yêu như là sự sống cùa con người, là động lực khiến con người hăng say hoạt động, lao vào hoạt động, quên hiểm nguy, dám liều chết. Hai giới răn đó là lòng mến, là tình yêu có đối tượng là tốt lành vô cùng. Không ai yêu mến điều xấu, điều giả dối. Yêu thương người nầy vì họ tốt, và khi biết được họ lừa dối, ta không còn thể yêu thương họ được nữa.Nhưng khi suy nghĩ về Thiên Chúa  tốt lành vô cùng nên ta yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân vì tha nhân  là tác phẩm của Thiên Chúa nên ta yêu mến họ  mặc dầu họ xấu. Chúng ta yêu mến tha nhân vì họ là tác phẩm của Thiên Chúa như chúng ta, và vì Chúa mà ta yêu mến họ.
Vì đặt trên nền tảng tình yêu nên hai giới răn đó có tính nội tại :
- Yêu mến Thiên Chúa vì Thiên Chúa. Nếu yêu mến Thiên Chúa vì Chúa thưởng nước thiên đàng thì chỉ yêu vì có lợi (mục đích vụ lợi).
- Yêu mến tha nhân vì là tác phẩm đẹp của Chúa chứ không phải vì tha nhân xử đẹp với tôi, tha nhân giúp tôi.
Hai giới răn vì đặt trên nền tảng tình yêu của Chúa cnên có thể hợp nhất với nhau thành một, nhưng vẫn luôn luôn có hai mặt phân minh, có đối tượng rõ ràng, không thể lẫn lộn mặt nầy với mặt khác. Không thể nói :
- Yêu mến tha nhân là yêu mến Chúa rồi, nên không phải đặt ra bổn phận yêu mến Chúa nữa.
- Hoặc yêu mến Thiên Chúa là được rồi, không cần yêu mến tha nhân nữa.
Trong thực tế, người ta dễ dàng cầu khẩn với Thiên Chúa, tỏ ra yêu mến Chúa, và chỉ thương tha nhân khi họ hợp ý ta. Chúa dạy phải yêu mến hết mọi người kể cà kẻ thù ghét ta ( Mt 5, 44)  Thánh Gioan Tông đồ nói : Kẻ nào nói yêu mến Thiên Chúa mà không yêu mến tha nhân là kẻ nói láo ( I Gioan 4,20) , ghét anh em mình là kẻ sát nhân ( I Gioan  3,15).
Trong cuộc sống, một người chưa biết Chúa, họ yêu mến tha nhân và yêu mến cách vô vị lợi, họ sẽ gặp Thiên Chúa, không phải bằng tên gọi, bằng tôn giáo, nhưng bằng cảm nghiệm linh thiêng về thần linh vì Thiên Chúa là nền tảng của tình yêu, là Đấng hiện hữu tại phần thâm sâu nhất của con người, là nền tảng sự hiện hữu của con người. Giúp người ta vô vị lợi sẽ gặp Thiên Chúa nơi con người của họ, mặc dầu họ không có Đạo, hoặc sống xấu xa.
  Ghi chú :  Lời nguyện Mùa Thương niên Chúa nhật 25 viết :
 Bản tiếng La tinh :  Deus qui sacrae legis omnia constituta in tua et proximi dilectione posuisti, da nobis. ut,  tua praecepta  servantes, ad vitam mereamur pervenire perpetuam. Per Christum .
Bản tiếng Pháp : Seigneur  tu as voulu toute loi consiste à t’ aimer et à aimer son prochain : donnez –nous  de garder tes commandements et  de parvenir ainsi à la vie éternelle . Par Jésus ( Missel  de l. assemblée dominicale , Publications de Saint André Éditions Brepols 1997 ) .
Lời nguyện nầy Ủy Ban Phụng tự Hội Đồng Giam mục Việt nam dịch năm 1992 va Phụng vụ Giờ kinh dịch trước đó : Lạy Chúa, Chúa đã thu toàn thể lề luật thánh vao giới răn độc nhất là mến Chúa yêu người ; xin giúp chúng con hằng vâng giữ điều Chua truyền dạy, sau nầy đạt tới phúc trương sinh . Chung con cầu xin ….
Bản La tinh : tua praecepta ( những giới răn của Chúa, ở đây ;a hai giới ran của Chua ).
Bản tiếng Pháp : tes commandements ( những giới răn của Chúa  tức la hai giới răn của Chúa ) .
 Bản dịch tiếng Việt  có hứng rất cao cho hai giới răn thành giới răn độc nhất !
Lm Fx Nguyễn hùng Oánh
 
VỀ MỤC LỤC
 Phỏng vấn Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc sau Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường về Gia đình
WHĐ (24.10.2014) – Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường về Gia đình do Đức Thánh Cha Phanxicô triệu tập nhóm họp tại Roma từ ngày 5-10 đã bế mạc vào Chúa nhật 19-10 vừa qua, sau hai tuần lễ thảo luận sôi nổi.
Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc là một trong các nghị phụ tham dự Thượng Hội đồng này với tư cách Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Ngài vừa trở về Việt Nam để tham dự Hội nghị Thường niên Kỳ II/2014 của Hội đồng Giám mục Việt Nam sắp diễn ra tại Toà Giám mục Nha Trang. Nhân dịp này phóng viên của Trang web Hội đồng Giám mục Việt Nam đã gặp Đức Tổng giám mục Phaolô và được ngài dành cho buổi trao đổi ngắn sau đây:
***
Phóng viên: Trọng kính Đức Tổng, Đức Tổng vừa tham dự Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường về Gia đình. Chúng con là những phóng viên của Trang web Hội đồng Giám mục Việt Nam xin được có đôi câu phỏng vấn Đức Tổng.
Thưa Đức Tổng, Đức Tổng có thể cho chúng con biết những vấn đề chính yếu đã được đưa ra bàn thảo trong Thượng Hội đồng Giám mục và hướng giải quyết của những vấn đề này?
Đức Tổng giám mục Phaolô: Thượng Hội đồng ngoại thường lần này bàn về đời sống gia đình, gia đình nói chung chứ không phải chỉ là hôn nhân hay là hôn phối. Đây là một chủ đề rộng lớn, đặc biệt là những gia đình công giáo trong thế giới hôm nay trước bao nhiêu khó khăn thử thách.
Mục đích của Thượng Hội đồng lần này là lắng nghe các nghị phụ, đặc biệt là các nghị phụ chủ tịch các Hội đồng Giám mục của các quốc gia, để nắm bắt tình hình một cách chắc chắn rồi mới đưa ra đường hướng chung cho toàn thể Giáo hội.
Đường hướng chung của Thượng Hội đồng là kết hợp tình thương và chân lý, lòng thương xót của Thiên Chúa và đòi hỏi bước theo Chúa Kitô trên con đường thập giá. Vì thế điều cốt yếu mà toàn thể Giáo hội vẫn phải kiên nhẫn thực hiện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, là sự giáo dục đào tạo hết sức cần thiết cho các gia đình Kitô giáo hôm nay.
PV: Thưa Đức Tổng, theo dõi trên truyền thông chúng con thấy có những vấn đề nổi bật như phá thai, ly hôn, hôn nhân đồng tính, bạo lực và đạo đức trong gia đình, được bàn rất sôi nổi ở trong Thượng Hội đồng. Thưa Đức Tổng, ngoài những vấn nạn đó ra thì Thượng Hội đồng Giám mục còn trao đổi những vấn đề quan trọng nào nữa?
ĐTGM: Thực sự, những vấn đề đã được nêu như phá thai, ly hôn, đồng tính, đó là những vấn đề nổi cộm trong Thượng Hội đồng (tôi dùng chữ nổi cộm chứ không dùng chữ nổi bật) nhưng không choán quá nhiều thời gian của Thượng Hội đồng.
Thượng Hội đồng dùng rất nhiều thời gian để bàn về giáo dục đức tin cho các gia đình Kitô giáo, cho vấn đề mục vụ gia đình.
Dĩ nhiên vấn đề mục vụ gia đình là một nghệ thuật. Trước hết, mục vụ là nghệ thuật trên hết các nghệ thuật, nghệ thuật cao cả nhất như thánh Grêgôriô Cả đã nói. Mục vụ gia đình cũng là nghệ thuật dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Đường hướng mục vụ gia đình thì Thượng Hội đồng cố gắng hướng theo con đường đồng hành và thăng tiến, như Chúa Giêsu đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmau, dần dần mới nâng lên. Dĩ nhiên, nếu có những lúc phải chữa lành, thì cũng phải chữa lành khi cần thiết. Cho nên mục vụ gia đình có thêm khía cạnh chữa lành. Mục vụ gia đình phải làm thế nào để cho mỗi gia đình Công giáo trở nên một trường học đầu tiên về cách làm người; trường học đầu tiên về xã hội tính, nghĩa là sự giao lưu tiếp xúc gặp gỡ với người khác; trường học đầu tiên về tinh thần Giáo hội và lòng yêu mến Giáo hội; trường học đầu tiên về sự nên thánh vì mọi người Kitô hữu khi chịu phép rửa đều được mời gọi bước theo Chúa Kitô để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô.
Điểm thứ hai: Thượng Hội đồng bàn thế nào để có chương trình giáo dục đào tạo thật vững chắc và rõ ràng.
Điểm thứ ba là làm sao biến các gia đình Công giáo thành những tác nhân loan báo Tin Mừng.
Và điểm cuối cùng thì phức tạp hơn, dài hơn, đó là mục vụ gia đình trong những hoàn cảnh khó khăn và khủng hoảng. Làm sao kết hợp tình thương và chân lý, kết hợp như thế nào trong những trường hợp của những người đã ly dị và tái hôn. Đây là vấn đề rất khúc mắc. Rồi trong trường hợp những người sống chung bất hợp pháp, nghĩa là không có bí tích hôn phối, bây giờ rất nhiều và tràn lan trên toàn thế giới. Điểm thứ ba cũng đề cập tới khá nhiều đó là vấn đề toà án hôn phối, làm thế nào để đơn giản hoá thủ tục để đưa về cho Giáo hội địa phương giải quyết giúp các khủng hoảng về đời sống gia đình.
PV: Kính thưa Đức Tổng, xin Đức Tổng chia sẻ cho chúng con biết bầu khí làm việc tại Thượng Hội đồng lần này.
ĐTGM: Bầu khí làm việc tại Thượng Hội đồng thì rất sôi nổi, rất tự do. Có những lúc hội trường nóng lên vì những tranh luận, nhưng cuối cùng cũng hoà hợp trong tình yêu thương bác ái và trong sự hiệp nhất. Có những phát biểu tự do và mạnh dạn, và có rất nhiều người tham gia phát biểu. Chính tôi cũng phát biểu vào phút cuối sau khi vị hướng dẫn đọc lên sứ điệp của Thượng Hội đồng. Tôi nhận xét thế này: “Tôi nhận thấy là sứ điệp của Thượng Hội đồng làm rất hay, nhằm khích lệ và an ủi các thành phần dân Chúa, đặc biệt là các gia đình Công giáo, nhưng có một thiếu sót là các nghị phụ an ủi dân Chúa mà không nhắc đến Đấng an ủi là Chúa Thánh Thần! Cả hội trường - kể cả Đức Thánh Cha - đều cười rộ lên vì thấy đúng nhưng không kịp sửa chữa được nữa vì đã vào phút cuối của Thượng Hội đồng. Đức Thánh Cha một cách nào đó đã bù vào chỗ trống trong diễn văn tự phát của người vào Thượng Hội đồng. Người nói khá nhiều về Chúa Thánh Thần. Người nói: các nghị phụ nói chung nhiều khi chưa mạnh dạn đủ để bước theo sự hướng dẫn và thúc đẩy của Chúa Thánh Thần… Bản thân tôi, tôi rất thích sự đa dạng trong tự do, trong yêu thương hiệp nhất. Đó là bầu khí của Thượng Hội đồng năm nay.
PV: Sau khi họp Thượng Hội đồng Giám mục về, Đức Tổng có hướng mục vụ mới nào cho gia đình tại Việt Nam?
ĐTGM: Hướng mục vụ mới thì không biết có mới hay không vì đối với Giáo hội, phải có một cái gốc rất là vững chãi, nhưng lúc nào cũng phải đổi mới. Nếu hỏi về đường hướng mục vụ gia đình thì tôi nghĩ đường hướng này gồm các điểm sau đây:
Trước hết, cơ bản nhất là phải giáo dục đức tin Kitô giáo cho những Kitô hữu, đặc biệt là những gia đình, sâu hơn, kỹ hơn. Giáo dục đức tin Kitô giáo thì gồm ít nhất một số những phần sau đây:
Phần thứ nhất là huấn giáo các bí tích mà tôi có dịp nói đi nói lại trong Thượng Hội đồng trong bài tham luận của tôi. Không phải chỉ bí tích Hôn Phối mà thôi mà những bí tích như bí tích Rửa Tội, bí tích Thêm Sức, bí tích Thánh Thể. Làm sao giáo dục những người Kitô hữu cho thật kỹ các bí tích đó, thì họ sẽ là những con người tương đối vững vàng để bước vào đời sống hôn nhân, sẽ được vững chãi và hạnh phúc trong đời sống hôn nhân.
Điểm thứ hai hết sức quan trọng là mục vụ đồng hành. Đường hướng chung của Giáo hội là muốn đồng hành cùng với các gia đình, mọi gia đình Kitô hữu và mọi gia đình Kitô giáo. Thực sự đồng hành có nghĩa là cùng hành trình với những Kitô hữu, với các gia đình. Mà khi đã nói đồng hành, thì riêng tôi, tôi nghĩ là phải thăm viếng thôi! Nếu không có sự thăm viếng là gặp gỡ đầu tiên thì làm sao đồng hành được! Việt Nam mình có cái khó này là các giáo xứ quá đông, quá lớn, nên các cha không đi thăm viếng giáo dân. Không gặp gỡ không thăm viếng giáo dân và gia đình thì làm sao đồng hành được? Không có cách nào khác hết, cho nên phải khuyến khích tối đa mục vụ thăm viếng. Nếu trong một giáo xứ quá lớn mà không thực hiện được thì phải cần sang điểm thứ ba.
Điểm thứ ba: Tích cực thúc đẩy sự tham gia của giáo dân. Các gia đình Công giáo giờ đây không phải là đối tượng của mục vụ gia đình, của sự chăm sóc của Giáo hội mà trở thành chủ thể của một gia đình cùng với linh mục, cha xứ tham gia vào mục vụ gia đình, đặc biệt là mục vụ thăm viếng đó. Như vậy mới có thể nói là theo hướng của Hội Thánh hiện nay. Đường hướng mục vụ tôi đề ra hiện nay là đường hướng của Hội Thánh. Những cha nào mà ở giáo xứ nhỏ vẫn vui mừng, đừng ham ở giáo xứ lớn. Giáo xứ nhỏ mình có cơ hội đi thăm các gia đình, mình đồng hành với các gia đình, mình thăm các giáo dân, mình đồng hành với các giáo dân, mình đi theo đúng đường hướng mục vụ của Hội Thánh, như vậy thì rất ích lợi. Tôi tin các cha cố gắng hết sức cùng với giáo dân làm việc này thì Giáo hội Việt Nam tiến được một bước rất xa.
PV: Chúng con hết lòng cám ơn Đức Tổng.
WHĐ
VỀ MỤC LỤC
 
   
  

Ngày 27 Tháng 04, Năm 2014, Hội Thánh đã tuyên phong hiển thánh cho Đức Thánh Cha Gioan Phao Lô Đệ Nhị.  

Con người, cuộc sống, lòng đạo đức, thánh thiện, nhân cách, tinh thần làm việc và cách lãnh đạo Giáo hội của ngài... Cả thế giới đã rõ, đã biết, đã tường tận, nhất là lòng kính trọng, khâm phục, ngưỡng mộvà kính mến, không những thế mà còn rung cảm thương cho cuộc đời của ngài từ khi còn là một cậu bé mồ côi mẹ, rồi lớn lên đi lao động, đi quân dịch, cũng mang ba lô,  đội nón sắt... hiên ngang bảo vệ quê hương. Hết nghĩa vụ quân ngũ, ngài lên đường theo tiếng gọi lương tâm, vào chủng viện đi tu, làm linh mục, giám mục, hồng y, làm giáo hoàng và giờ đây, ngài đang chuẩn bị làm thánh cho chúng ta. Cả loài người thiên hạ sẽ gọi và tuyên xưng ngài là Thánh Nhân.  
Bắt đầu năm phụng vụ 2014 và mãi đến suốt đời, Hội Thánh Công Giáo sẽ có và dành riêng một ngày đặc biệt trong năm, và Giáo hội khắp nơi trên Hoàn vũ sẽ mừng lễ kính vị Thánh Gioan Phao Lô II này trong ngày đó. 
Nói và viết về ngài, có lẽ với tôi và cả với bạn nữa sẽ rất dè dặt, vì quả thật ngôn ngữ giới hạn của chúng ta không đủ để diễn đạt trong khi sự nhân đức và thánh thiện của ngài thì quá bao la và cao cả. Có nhiều người đã nói, đã viết về ngài, về vị thánh sống từ khi ngài còn nơi dương thế. Vâng, cả thế giới này đã thực hiện và làm những điều đó mỗi ngày ròng rã suốt gần bốn mươi năm qua bằng nhiều hình thức qua các phương tiện truyền thông và báo chí, trên các trang mạng kể từ khi ngài được bầu làm giáo hoàng năm 1978 rồi mãi đến khi ngài qua đời, và vẫn còn khơi dậy cho đến hôm nay. Tôi tin tưởng ảnh hưởng của ngài sẽ còn rộng lớn hơn trong tương lai và sẽ mãi mãi trong dòng chảy của kiếp nhân sinh.  
Thánh nhân Gioan Phao Lô Đệ Nhị đã đi vào lòng lịch sử của Thế giới, của Giáo Hội Công Giáo và bất biến trong lòng kính yêu, trong mỗi trái tim của người tín hữu hiện diện khắp nơi trên quả địa cầu này. 
Tuy nhiên, có lẽ bạn và tôi sẽ không biết đến về một lĩnh vực rất riêng của ngài mà theo Đức Cha Giáo Phận Bắc Ninh Cosma Hoàng Văn Đạt nghiên cứu và tìm hiểu rằng, Ngài là một trong bảy nhà thơ lớn của nền văn học nước Ba Lan, và nếuhôm nay không có Giáo sư Phanxicô Lê Đình Thông, một học giả có tiếng tăm tại Pháp nói riêng và Hải Ngoại nói chung đã khổ công nghiên cứu, chuyển ngữ, rồi dịch thơ của thánh nhân lại bằng tiếng Việt Nam của chúng ta, một ngôn ngữ mẹ đẻ rất gần gũi bên cạnh như hơi thở, như cơm với cá, như mẹ với con, thì có thể tôi chưa biết trọn vẹn đến ngài. 
Qua tập thơ của Đức Thánh Cha Gioan Phao Lô II đã được vị giáo sư này dịch lại mà tôi nhận được từ một anh nhạc sĩ bạn. Tôi lắng đọng tâm hồn để đọc từng chữ, từng câu, từng ý tưởng và lần lượt từ bài này qua bài khác. Dòng thơ ấy đã lôi cuốn tôi vào một tri thức của chữ nghĩa và của văn chương, dẫn tôi đến bến bờ không phải là sự trừu tượng mà thực thể cho tôi được cảm, được nhận và biết thêm về cuộc sống đời thường với tình cảm sâu kín rất thật, rất giản dị nơi con người của thánh nhân. 
Bài thơ "Mẹ Ơi" (Trích đoạn I) của ngài. Qua một góc nhìn với một lăng kính giới hạn nào đó, tôi thấy được tình cảm của ngài đối với người mẹ của mình, một thứ tình cảm luôn dạt dào nhưng luôn khắc khoải và lắng sâu. Ngài không thể che dấu niềm đau vật vờ và nỗi chua xót thiếu thốn người mẹ trong đời sống. 
Chúng ta có thể tưởng tượng và nhìn ra được cuộc đời đơn côi của một đứa bé bị mất mẹ, với những tháng ngày ngỏ vắng, dại khờ, với lờ mờ sớm trưa mà ngài phải gánh lấy trong quãng đời thơ dại đó. Tựa đề bài thơ này chỉ vỏn vẹn có mỗi hai chữ "Mẹ Ơi". Vâng, chỉ có hai tiếng giản dị đó thôi cũng đủ cho chúng ta thấy được sự khao khát tình mẫu tử nơi ngài, khao khát của môt đứa bé luôn cần có mẹ bên cạnh  để được chở che và vỗ về, được gọi "mẹ ơi" bất cứ khoảnh khắc nào trong đời sống từ khi bé thơ và thậm chí đến khi đã khôn lớn. Nhưng quả thật, ngài đã bất hạnh vì không được gọi hai tiếng thiêng liêng đó. Hai tiếng gọi đầu đời trên môi của em bé mà không một ai hướng dẫn, không một trường lớp nào dạy dỗ, chỉ bảo. Chỉcó Thượng Đế mới gắn chặt tình mẫu tử thiêng liêng đó ngay từ những giây phút phôi thai khi đứa bé được thụ thai, rồi nên hình, nên dạng trong dạ lòng của người mẹ.  
  Tôi nghĩ rằng và hơn ai hết, dịch giả Giáo sư Lê Đình Thông đã thẩm thấu và cảm nhận điều sâu xa về cuộc đời thiếu thốn tình mẫu tử của thánh nhân, để chọn và dịch lại hai tiếng "Mẹ Ơi" rồi đặt tên làm tựa đề cho bài thơ này.  
Hãy điểm qua một vài câu thơ của ngài được chuyển ngữ và dịch thơ lại sau đây:
"Dòng đời trôi nổi bấp bênh, qua bao năm tháng lênh đênh nổi sầu. Mẹ tôi mất cũng đã lâu, làm sao quên được niềm đau vật vờ...."
Thế đó! Ôi tình cảm thật chân thiết đã in sâu vào tâm trí, trong tiềm thức của ngài mà khi đọc qua, có lẽ chúng ta không ngăn chặn được cái nghèn nghẹn co thắt đâu đó trong tim, và có thể giọt lệ đang làm ta cay mắt và chực ứa trào. Chưa hết, bài thơ "Hoa Trắng" cũng là một kiệt tác về văn chương nhưng cũng rất đậm sâu về tình cảm mà tác giả đã diễn tả như tiếng kêu rên rỉ âm thầm, xót đau trong lòng của một đứa bé mất mẹ.  
Bài thơ Hoa Trắng này đã thật sự dẫn đường tôi đến để nhìn thấy ngôi mộ của mẹ thánh nhân. Tôi tin chắc ngôi mộ này rất đơn sơ và có thể lót đá hoặc quét vôi trắng nằm chênh vênh, đơn độc ở một góc chân trời nào đó mãi tận nước Ba Lan. Bài thơ này đã cho tôi cảm nghiệm thêm nổi buồn, xót xa, qua những năm tháng trong từng giây phút trống vắng, lạc lõng, đơn côi giữa dòng đời mà thánh nhân đã đối diện và sống trong hoàn cảnh mất mẹ từ khi ngài còn rất nhỏ bé, khoảng tám chín tuổi nếu người viết nhớ không lầm.  
Tôi đây cũng đã mất mẹ, mới mất cách đây bốn năm thôi và mất khi tôi đã là năm mươi tuổi. Vâng, năm mươi tuổi mà mất mẹ thì cũng xem như đã vững chân đứng trong dòng đời ngược xuôi, tự lo và xoay xở và tự sống còn về thể lý. Tuy nhiên và mặc dù thế, trong tôi vẫn luôn cảm nhận được sự đau xót, thương tiếc, đơn côi, bơ vơ, lạc lõng đến thế nào ấy, nhất là khi tôi thất thểu bám sau quan tài để tiễn đưa mẹ tôi xuống lòng huyệt. Dòng lệ và dòng suy tư đã làm tôi ý thức được là kể từ nay tôi sẽ không còn mẹ trong cuộc đời, sẽ không bao giờ được gần bên mẹ, được gọi tiếng mẹ ơi khi cần đến, khi đau khổ hay hoạn nạn để được mẹ ủi an, khi hạnh phúc hay khi sướng vui để kể cho mẹ mừng, khi thất bại hay công thành danh toại để chia sẻ với mẹ... Với những cảm nhận chia ly và mất mát của tôi đó, thì huống gì sự đau đớn, chua xót và đơn côi đối với một đứa bé mới lên tám tuổi thì niềm đau sâu thẳm đến chừng nào ? Làm sao và có thể đứa bé tự định hướng được trong cuộc đời ?.
Những đau xót và thương tiếc của thánh nhân được diễn tả qua các vần thơ trong bài Hoa Trắng, đã thật sự dao động trong tâm hồn tôi, đã làm tôi phải chảy nước mắt khóc thương nhớ đến mẹ của tôi mà giờ đây ngôi mộ và thân xác của mẹcũng đang nằm cô quạnh dưới lòng đất lạnh:
"Mẹ tôi mộ đá trắng ngần, nở bông hoa trắng xoay vần đời con. Vành tang mất mẹ mỏi mòn, bao năm xa cách một lòng nhớ thương. Mẹ tôi mộ trắng xót thương, tình yêu hoa trắng còn vương cõi trần, Mẹ tôi mộ vắng vấn vương..." (Bài thơ Hoa Trắng).
Hãy dành thời gian để đọc hai muơi lăm bài thơ của ngài, rồi thả dòng suy tư vềđời sống và con người của thánh nhân. Ngoài các nhân đức và đời sống thánh thiện, ngài còn có lòng đặc biệt yêu quê hương và đất nước của mình. Có hai câu nói mà ngài đã nói và đã để lại cho chúng ta thấy được lòng yêu nước, yêu quê hương, thương giống nòi thật mãnh liệt ở trong trái tim của ngài.
Trong thời gian làm Giáo hoàng, ngài đã thẳng thắn và can đảm nhưng rất chân thành bày tỏ lòng yêu nước của mình. Ngài nói: "Dù là một vị Giáo hoàng, nhưng tôi vẫn có trái tim để yêu quê hương và đất nước của tôi".  Ngài còn khẳng định lòng yêu quê hương và muốn bảo vệ cho đồng bào dân tộc của mình qua câu nói sau đây:  "Tôi sẽ cởi áo giáo hoàng để về bảo vệ và chiến đấu nếu Liên xô hay một quốc gianào đó tiến quân xâm lược đất nước tôi".   
Ngày đắc cử ngôi vị Giáo hoàng và đứng trên ban lơn, ngài cất tiếng chào mừng và chúc bình an cho mọi tín hữu. Ngoài lời chào mừng và chúc bình an đó, ngài đã dùng một đoạn ngắn của Thánh Mathêu trong Phúc âm để nói với dân chúng: "Các con đừng sợ" Một câu nói ngắn ngủi ấy thôi, thế mà sau này đã làm tan rã các thế lưc tà quyền và những mưu mô của thế tục.  Vì "Các con đừng sợ" nên người dân Đông Đức đã mạnh dạn hiên ngang đứng dậy dùng búa thẳng tay phá sập bức tường ô nhục Bá Linh năm 1989 để vượt qua Tây Đức tìm  lại bà con, gia đình, tìm lại tự do mà sau bao nhiêu năm run sợ vì phải bị bức tường ngăn cách dòng máu lưu thông trong huyết quản từ một người Mẹ chỉ vì ý thức hệ và lòng tham bá chủ của những đứa con cứng đầu, ngổ nghịch, tham lam và khó dạy !.
"Các con đừng sợ" Ngài cũng đã lập lại một lần nữa trong kỳ Đại Hội Giới Trẻ như để nhắc nhở những thế hệ trẻ sau này đừng sợ mà hãy mạnh dạn chiến đấu với nền văn hóa của sự chết, văn hóa của bóng tối và của tội lỗi...
Lòng yêu quê hương và đất nước của ngài có thể diễn tả qua người diễn viên nơi sân khấu cuộc đời.
"Quanh ta có biết bao người, tác phong chín chắn nói cười thong dong. Ta như thác nước xuôi dòng, mà không hổ thẹn tấm lòng sắt son..." (Bài thơ Diễn Viên) 
Dù là một vị Giáo hoàng cao trọng, nhưng tôi nghĩ ngài rất gần gũi với người chân lấm tay bùn, người thấp cổ bé miệng. Từ người lao công của hầm mỏ, đến những công nhân lao động chân tay như: xẻ đá, đục, gõ, cưa, bào, và những giọt mồhôi. 
"Dùng bàn tay chai đá nứt làn da. Giơ búa cao đập tan bao tảng đá. Đá chẻ ra bao ý nghĩ mặn mà. Nhờ chịu khó ta làm nên tất cả..." (Bài thơ Xưởng Thợ)
Vâng, thơ hay mà người dịch thơ cũng tuyệt vời và khéo léo. Nhưng hình nhưchúng ta đang nghe có tiếng thở dài mệt nhoài và thấy những giọt mồ hôi nhễ nhãi, lấm tấm trên khuôn mặt và ướt đẫm trên chiếc áo lao động của ngài.
"Người thợ điện nghỉ ngơi cơn gió mát, xẻ non cao đào sông rạch xa gần. Bác nông phu phơi lúa chín ngoài sân, bầy con nít nắm tay nhau ca hát..." (Bài thơ Xưởng Thợ) 
Gần gũi nhất là tác giả vẽ cho ta một bức tranh, trong đó có hình ảnh sống động của bác nhà nông, con trâu với đồng lúa, với ánh sáng mặt trời đang chiếu dọi trên đồng ruộng. Cho ta thấy bác phu đang cầy cấy mà có thể bác phu đó cũng chính là ngài với những mong ước rất chi là bình thường và giản dị... Sự mong đợi từ những cây mạ non khi vừa ươm xuống lòng ruộng, rồi từng ngày chăm bón ngóng chờ được nẩy mầm, niềm sung sướng khi thấy lúa trổ đòng đòng, thỏa lòng khi được mùa gặt bội thu, hát câu ca vang trên con đường đê, khấp khởi hân hoan kê vai quẩy gánh thóc về.
Hãy nhìn vào bức tranh, để thấu và cảm nhận được lòng ngóng trông của bác nhà nông:
"Ánh mắt nào con mong còn đợi, mau đến mùa lúa mới đơm bông. Cấy cầy vất vả nhiều công, mong sao mưa thuận, cầu mong gió hòa..." (Bài thơ Mùa Lúa Mới)  
Tôi nghĩ thánh nhân khi đương thời đã có cái nhìn rất thực tế về Nhân Sinh Quan. Ngài không bao giờ bi quan mà luôn có tinh thần lạc quan trong mọi tình huống nơi đời sống. Đặc biệt nơi ngài là sự quan tâm đến những người chung quanh và lòng xót thương khi gặp người bị nạn.  
Nếu giả sử ngài không phải là vị giáo hoàng mà tôi chỉ biết và tìm hiểu sau khi đọc các vần thơ, tôi sẽ thấy nơi ngài có lòng thương người và rất quan tâm những ai bên cạnh dù thời gian eo hẹp và dù có bận rộn trong đời sống.
"Tâm trí ta mệt nhoài tim bấn loạn, khu phố đông người qua lại vội vàng. Lời dặn dò nghe đó đây loáng thoáng, chớ bỏ qua rồi ra sẽ muộn màng..." (Bài thơ Tiếng Thầm). 
Trong cuộc sống và dòng đời vội vã, có lẽ bạn và tôi không dành thời gian nhiều để quan tâm người bên cạnh, mà thật ra người nào cũng có liên quan trong đời sống của chúng ta bằng cách này hay cách khác. Từ người láng giềng, hàng xóm đến những bạn bè, những người Thầy, người Cô dạy dỗ ta, những người cùng mang một dòng máu đỏ da vàng, thâm chí đến những người thân trong gia đình... thử hỏi có mấy khi ta mở lời chào và thăm hỏi hay quan tâm đến đời sống và sức khỏe của họ thật lòng ?
Xã hội và môi trường bây giờ có xu hướng về chủ nghĩa cá nhân, họ không còn cái xót thương và lòng trắc ẩn khi gặp người bị hoạn nạn hay thiếu may mắn trong đời sống, thậm chí nghoảnh mặt hay vô tâm để rồi phải sảy ra "những điều trông thấy mà đau đớn lòng" (Nguyễn Du).
Cách đây không lâu bên nước Trung Quốc, có một em bé bị xe cán và bị thương khá nặng khi băng qua đường. Biết bao người qua lại đã nhìn thấy em bé tội nghiệp đang nằm dẫy dụa với các vết thương, nhưng tất cả đều vô tâm mặc dù con phố luôntấp nập và đông người. Có lẽ vì bận rộn chạy cho kịp cuộc sống để rồi không một ai chịu cúi xuống ra tay giúp đỡ hoặc đưa em bé đi bệnh viện, hoặc băng bó vết thương cho em. Cuối cùng vì kiệt sức bởi máu ra quá nhiều và em đã nhắm mắt lìa trần chết tất tưởi một cách thê thảm và oan uổng. Khi chết rồi, xác em cũng nằm trên góc con phố đó đến chiều tối cũng không có một ai màng đến. 
Em nhắm mắt lìa trần nhưng có mở được mắt lương tri cho những người dâncùng mang dòng máu với em trên con phố nào đó ở bên Trung Quốc ? Em nhắm mắt chết tất tưởi, nhưng tôi tin em đã mở mắt loài người trên thế giới để họ nhìn thấu rõ những con người đó đã đánh mất hết lương tâm, chai lì lòng trắc ẩn, coi thường tình người, mất tính nhân bản mà hậu quả là do sự nhồi nhét một thứ chủ nghĩa lạc hậu, lỗi thời, một thứ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cá nhân. 
Nếu bạn lên youtube mà người Việt Nam đã đưa lên. Hãy mở xem những cảnh người lớn đánh nhau trên đường phố, trong trường học với các học sinh, thậm chí các học sinh nữ. Biết bao người đứng xung quanh chỉ để xem mà không hề chịu vào để can ngăn và giúp kẻ yếu được thoát nạn. Họ quá dửng dưng như thể con tim và lương tâm của họ không còn một chút xót thương và rung cảm của đồng loại.
Hãy nghe lời khuyên của thánh nhân:
"Đừng nhìn nhau vẻ hời hợt bề ngoài, đến bên nhau trong sâu lắng khôn nguôi..." (Bài thơ Tiếng Thầm)  
Vì chủ nghĩa cá nhân đã che lấp cái tình nghĩa con người, xem vật chất là trên hết. Văn hóa của bóng tối và văn hóa của sự chết đã làm tắt nghẽn dòng máu loài người, bóp chết trái tim biết rung cảm và xót thương, đóng cửa và nhốt lý trí lại nơi hàng rào trong bức tường ích kỷ, làm cho kém đi sự nhận thức và lu mờ để không còn có khả năng biết được những "cái đẹp cứu rỗi thế giới". Hậu quả là biết bao cảnh đau lòng sảy ra trên thế giới từ chiến tranh chết chóc, khủng bố, đánh bom tự sát, nạn bạo hành trong gia đình, học trò đánh thầy, bác sĩ thủ tiêu bệnh nhân xuống sông vì lỡ làm chết để che dấu bởi cách chữa trị hời hợt và thiếu lương tâm. Các tệ nạn, cướp bóc, giành giựt, hỗn loạn, đảo lộn mọi thứ trong đời sống. Tất cả điều đó cũng phát xuất từ các chủ nghĩa nói trên và xem thường cung cách giáo dục ở các nhà trường từ đức dục, trí dục, luân thường đạo lý, nhân lễ nghĩa trí tín, lòng đạo đức, tính thương người...
Có lẽ thánh nhân đã nhìn thấy một xã hội, một thế giới băng hoại đó nên ngài mới viết ra những lời tâm huyết để mời gọi và nhắn gửi đến chúng ta, nhất là nhắn gửi đến các bạn trẻ:
"Các bạn trẻ tìm đường bước tới. Đường loanh quanh trăm lối về đâu. Biết chăng muốn bước qua cầu. Con đường chính đạo nhiệm mầu trong tâm..." (Bài thơ Đường Sáng) Ôi thật là thâm thúy và nhiệm mầu !  
Bạn đọc mến, 
Như đã nói từ đầu, tôi chỉ muốn đề cập đến một góc cạnh trong lăng kính rất giới hạn của ngôn ngữ, và chỉ vỏn vẹn những vần thơ mà tôi cho đó là cái nhìn rất Nhân Sinh Quan trong đời sống đời thường của Đức Thánh Cha Gioan Phao lô II.  Những bài thơ, vần thơ tôn giáo, đạo đức, tu đức... của thánh nhân mà Giáo sư Lê Đình Thông cũng đã chuyển ngữ và khéo léo dịch thơ lại rất ý nghĩa và thanh thoát... Tôi không dám luận bàn hay phân tích, nhưng sẽ đọc mãi để cảm hóa lòng đạo đức của mình.
Trong tri thức và những gì là của ngài, cũng huyền nhiệm và cao cả. Từ cuộc sống đời thường nơi dương thế, đến khi ngài làm giáo hoàng, bị ám sát với bốn viên đạn xuyên qua ngực nhưng không chết, và thậm chí ngay cả thời gian mà ngài qua đời trong những ngày lễ Phục sinh và kính Lòng Thương Xót Chúa, cũng nằm trong sự huyền nhiệm đó, mà hễ điều gì, cái gì đã là huyền nhiệm thì con người và khoa học cũng không thể giải thích và chứng minh được.
Xin bạn hãy nhắm mắt suy luận để thấy rõ hơn những gì tôi vừa đề cập.
Vâng, tất cả nơi ngài là huyền nhiệm và cao cả đối với tôi.  
Tôi xin mời bạn hãy đọc những vần thơ đó sớm có thể, khi đọc những vần thơ đó là chính bạn đang thực sự cầu nguyện, nội tâm và trí đoán của bạn một cách nào đó đang siêu thoát và có thể đang chạm đến Đấng Thượng Trí.
Trong tri thức và lòng đạo đức của ngài, trong tâm tình và văn chương phong phú, kiệt tác, xuất chúng của ngài trải dài trên những vần thơ đó, đích thật là huyền nhiệm nhưng giãi bày, thanh thoát nhưng tình cảm, cao sâu nhưng gần gũi, triết lý nhưng thực tế, có thể sờ mó được, nhất là tấm lòng tình cảm chân chất của ngài đối với mẹ hiền, với quê hương và đối với nhân thế.  
Cuộc đời trải dài tám mươi lăm năm của ngài nơi dương thế, đã để lại biết bao điều thánh đức và gương sáng, về đời sống mục tử và chứng nhân. Nhân thế cũng đã để lại lòng thương mến, kính yêu, trân quí mà người người khắp nơi trên thế giới luôn hướng về Tòa Thánh nơi căn phòng có ánh sáng lọt qua cửa sổ trong những đêm ngài hấp hối, rồi tiếng khóc vỡ òa khi tin ngài qua đời. Cuối cùng chiếc quan tài bằng gỗ tạp đơn sơ, giản dị và khiêm hạ như chính con người và đời sống của ngài. Chiếc quan tài đặt xuống mặt đất giữa quảng trường Thánh Phêrô mêng mông biển người, không có đèn nến, hoa đăng, không có vải lụa gấm vóc giăng đầy như cácchủ tịch của nước Bắc Hàn qua đời, cũng không trầm thơm ngào ngạt, hay khói hương nghi ngút như các vị vua chúa hay các bậc quyền quí, cao sang. Nhưng thay vào đó, ngài có hàng triệu triệu con tim khắp nơi trên thế giới, đủ mọi thành phần và giai cấp đã nhỏ lệ khóc thương tiếc ngài. Ngài đã sống thánh giữa trần gian và đã mang lại cho con người những điều của Chân- Thiện- Mỹ...
Một nhà thơ người Hoa Kỳ mang tên Ralph Waldo Emrson đã nói: "When you were born you were crying and everyone else was smiling. Live your life so at the end, your're the one who is smiling and everyone else is crying." Tạm dịch: Khi bạn sinh ra, bạn khóc mà mọi người đều cười. Hãy sống làm sao đến cuối đời khi bạn ra đi, bạn cười mà mọi người đều khóc. 
Vâng, tất cả mọi tín hữu đều đã khóc thương tiếc ngày ra đi của ngài, mặc dù ai cũng biết ra đi là khởi điểm cho ngày trở về theo quan niệm và tín lý của Ki-tô giáo. 
Người khôn ngoan thì luôn xây nhà trên đá, luôn nghĩ để dọn đường cho sự sống vĩnh hằng mai sau, còn dưới thế thì sẽ để lại tiếng thơm tiếng tốt muôn đời mà chính bia miệng của loài người sẽ nhắc mãi qua câu tục ngữ: "Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ".
Thánh nhân biết rõ điều đó nên đã tự nói và luôn nhắc nhở lòng mình qua bài thơ ngắn ngủi của ngài sau đây:
"Đời người ngắn ngủi không bằng, cây đa cổ thụ đầu làng xanh lâu. Hơn nhau cuộc sống đời sau, linh hồn sống mãi nhiệm mầu huyền vi"
Hoặc là: "Đời người thân xác mất đi, linh hồn như cánh chim di miệt mài. Sau này cát bụi hình hài, bao nhiêu sự nghiệp một mai còn hoài" (Bài thơ Độc Thoại).
Vâng, giờ đây mọi người sẽ không còn khóc nữa, nhưng sẽ cùng với ngài hân hoan tạ ơn Chúa và rồi cùng cười trong tiếng lòng với nước mắt sung sướng, nước mắt của hạnh phúc để đón nhận ơn thánh cao cả nhất mà ngài được tuyên phong là Đấng Hiển Thánh như Thánh Phao lô đã khẳng định: "Qua Thập Giá, sẽ đến được Vinh Quang". 
Có lẽ như có sự linh ứng khi ngài còn đương thời để rồi bài thơ "Bức Tường" mà ngài đã viết từ hôm nào về một vị thánh, và hôm nay vị thánh đó có lẽ chính là ngài:
"Tường thẳng đứng hai bên là hốc đá. Tượng Thánh Nhân còn thanh thản nguyện cầu. Luôn mở ra trang sách thánh nhiệm mầu. Ngập tâm trí trầm hương bao điều lạ..."
Ôi, thật là huyền nhiệm. Vâng, như tôi đã nói: Tất cả nơi ngài là huyền nhiệm, là cao cả. 
Thưa bạn! 
Đến đây có lẽ bạn và tôi sẽ chợt nghĩ và sẽ đề cập đến người đã chuyển ngữ và dịch thuật hai mươi lăm bài thơ của thánh nhân, đó là Giáo sư Lê Đình Thông mà tôi có đề cập ở phần đầu. 
Tôi nghĩ rằng đây là một ơn thánh đặc biệt đã tác động cho vị giáo sư mũi tẹt da vàng, sống đời tị nạn lưu vong trên phần đất không phải là nơi chôn nhau cắt rốn của quê hương mình. Lại còn không phải khi sinh ra, vị giáo sư này được hấp thụ thứngôn ngữ của mẹ đẻ, gần gũi như hơi thở, như mẹ với con, mà rất xa lạ qua các ngôn ngữ Tiếng Tây, Tiếng Tàu, nhất là Tiếng Ba Lan. Nếu bạn có nói một cách rành mạch một thứ tiếng nào mà không phải ngôn ngữ của mẹ đẻ, thì cũng sẽ giới hạn trong một phạm vi nào đó của chuyên môn, trong xã giao, giao dịch hay trong đời sống thường nhật. Nhưng đối vị với vị giáo sư này thì lại khác. Ông ta đã vượt xa điều tôi tưởng. Hai mươi lăm bài thơ của thánh nhân mà ông ta đã dịch lại cũng đủ để chứng minh điều tôi muốn nói. Tôi nghĩ vị giáo sư này không những là một nhà thơ lỗi lạc mà còn là một nhà Ngôn Ngữ Học uyên thâm.  
Có lẽ bạn và tôi không thể phủ nhận cách chuyển ngữ và dịch thuật lại, rồi diễn tả cũng chính bằng những vần thơ và tài tình chuyển qua thành các bài thơ Tiếng Việt Nam với các vần điệu, với các thanh âm bằng trắc để hoàn thành trọn vẹn từ các thểloại thơ lục bát, song thất lục bát, thơ đường, thơ tự do qua cách gieo vần thật phong phú và khéo léo, chứa đựng đầy đủ ngữ nghĩa với văn phong lôi cuốn... Nhà dịch thơ này còn lý luận, phân tích những từ của Hán Việt, rồi chọn và áp dụng vào những vần thơ nói trên. Thí dụ chữ "xiển dương" trong bài thơ Magnifica. Đây là văn từ ghép của Hán Tự mà vị giáo sư này đã dịch thuật lại để dùng từ này áp dụng cho thích hợp với cái khung cảnh, ngữ cảnh cũng như các chủ ngữ trong bài thơ Magnificat. 
Trước đây, từ ngữ này đã có một số người đã dùng, trong đó còn có cả nhà thơ, và nhạc sĩ mà một vị nào đó đã dùng từ này để đặt tên cho một bài hát với tựa đề: "Mẹ Triển Dương" với câu hát đầu: "Mẹ triển dương trên núi Li Ba Nô..." Theo Hán Ngữ thì chữ "xiển" nghĩa là "mở ra" chữ "dương" cũng có nghĩa là "rộng, lớn, bao la..." Như vậy: xiển dương có nghĩa là mở ra bao la, trong đại... "Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi bao điều trọng đại..." (Một trong đoạn kinh thánh của Thánh Luca 1, 47-55). Vậy theo ý nghĩa, tôi nghĩ chữ "xiển dương" mới đúng và chính xác như vị giáo sư này đã dùng đến. 
Văn chương Tiếng Việt Nam rất phong phú với nhiều nét đặt thù lôi cuốn, có lẽ là nhờ âm điệu vì có các thanh âm năm dấu, sáu giọng nên tiếng Việt Nam "dễ thương" đến thế.   
Lần đầu tiên khi đến Việt Nam và nghe Người Việt Nam nói chuyện, các nhà ngoại quốc đã quả quyết và nói rằng: "Người Việt Nam nói chuyện như hát vậy !".
Phải lắm, vì mỗi tiếng được phát ra là có âm điệu lên xuống bởi các thang âm của mỗi chữ mang các dấu: huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã. Cũng thế, tiếng Việt Nam là một ngôn ngữ đơn âm và nếu dùng đơn phương hay lẻ loi một từ thì sẽ rất nghèo nàn, chính vì thế mới có các chữ được ghép lại qua sáng kiến của các học giả, nhất là các cụ xưa kia để cho tiếng Việt Nam thêm phần phong phú.
Những thế hệ đi trước đã ảnh hưởng rất nhiều đến chữ Nho và khi các cụ ghép lại, thường là tiếng Nôm, tiếng Hán đi đôi. Thí dụ: dân-chủ, độc- lập, thế-lực, chính-quyền, tà-quyền, v.v... Cũng thế, thiết tưởng hôm nay chúng ta gọi tên nước Việt Nam mà thiếu đi một chữ cũng là điều thiếu xót quan trọng (!).
Tôi chân tình và rất cảm phục cách chuyển ngữ rồi dệt lại và cuối cùng làm cho ra những vần thơ kiệt tác một cách trôi chảy mà bạn đang cầm trên tay. Tôi không có cơ hội đọc các bài thơ nguyên thủy của ngài, mà dẫu có đọc cũng không thể hiểu được vì có thể ngài viết bằng chính ngôn ngữ của ngài. Tuy nhiên, sau khi đọc các bài thơ đã được dịch lại, tôi đã cúi đầu để tạ ơn Chúa vì đã thấy và cảm nhận cách dịch thơ rất tài tình và tuyệt vời của Giáo sư Lê Đình Thông. Tôi nghĩ vị giáo sư này góp một bàn tay rất quan trọng để cho chúng ta hiểu thêm một góc cạnh trong đời sống văn chương của ngài, nhất là chắp cánh cho các bài thơ của thánh nhân đến với chúng ta là Người Việt Nam.
Với sự thông thái và uyên bác, vị giáo sư này đã làm cho các bài thơ của thánh nhân ý nghĩa hơn, hay và mượt mà hơn, tô điểm và mặc thêm bộ áo để các bài thơấy tươi sáng, rực rỡ và duyên dáng hơn.
Người ta thường nói "dịch" là "diệt". Nhưng với vị giáo sư này thì làm ngược lại, nghĩa là cho nó sống động hơn, đầy cảm xúc hơn qua nghệ thuật văn chương và thơ phú trời ban cho ông ta. Chính vì lẽ đó, các bài thơ ấy đã lôi cuốn trong tôi và tạo cho tôi nguồn cảm hứng lạ thường, điều mà những người làm công việc của nghệ thuật và của âm nhạc rất cần thiết và cần có. Nguồn cảm hứng ấy đã giúp tôi hoàn thành mười ca khúc phổ từ hai mươi lăm bài thơ kiệt tác đó, và tôi sẽ lấy chủ đề "Lời Kinh nguyện" đặt tên cho cuốn CD gồm 10 ca khúc phổ thơ của Đức Thánh Giáo Hoàng này.
 Một bài thơ hay và ý vị, ắt phải hội đủ những yếu tố cần thiết về bố cục, ý nghĩa, văn chương, cách gọt chữ, vần điệu, câu cú và điệp từ như tôi đã nói ở trên, nhất là chiều sâu của bài thơ. Tạ ơn Chúa, Giáo sư Lê Đình Thông đã có và đã đạt được những điều đó. 
Những thế hệ trước đã có các nhà thơ công giáo để đời như Hàn Mặc Tử. Lời thơ của vị này sâu thẳm, nhưng chúng ta có thể thấy máu và nước mắt trong từng câu thơ qua sự đau đớn về thể xác, nhưng cũng cho chúng ta cảm nghiệm cái tinh thầnluôn biết cậy trông và phó thác. Gần đây có nhà thơ Xuân Ly Băng với các nhà thơ tiếng tăm khác. Và hôm nay chúng ta có thêm Giáo sư Lê Đình Thông, một nhà thơ và một người dịch thơ tuyệt vời. 
Không phải là điều tự nhiên sắp xếp ý định của con người. Sự hiện diện hiếm có của vị giáo sư này trong những bài thơ của thánh nhân, tôi nghĩ là Thiên định. Như tôi đã nói ngay từ đầu và hay lập lại. Tôi đã nói gì ? Tôi đã nói rằng:  Tất cả những gì liên quan nơi thánh nhân là huyền nhiệm và cao cả và tôi tin tưởng điều đó. Vì: "Một sợi tóc trên đầu rơi xuống, cũng là thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa". 
Trong sách Luận Ngữ có câu mà Đức Khổng Tử khuyên chúng ta rằng: "Hãy lấy Đạo làm Hướng, lấy Đức làm Gốc, lấy Nhân làm Nơi Nương Tựa và lấy Nghệ làm Niềm Vui"
Quả thật, Giáo sư Lê Đình Thông còn làm hơn thế, vì tất cả công việc mà ông đang thực hiện không những chỉ để làm niềm vui cho riêng mình, mà còn lấy Nghệ Thuật để loan báo Tin Mừng giữa thế giới hôm nay. 
 Văn Duy Tùng (Hội Nhạc Sĩ CGVN Hải Ngoại)
Washington D.C. Ngày 15 Tháng 02, Năm 2014
Về Mục lục
 
   
           
Nhân tháng các linh hồn sắp tới, xin cha cho biết:
1- Chúa có phạt ai xuống hỏa  ngục không ?
2- Luyện ngục ,hỏa ngục khác nhau như thế nào ?
3- Tín điều các Thánh thông công là gì ?
Trả lời :
1-    Chúa có phạt ai xuống hỏa ngục không ?
Thiên Chúa là tình thương, Người chậm bất bình và  hay tha thứ. Người tạo dựng  con người chỉ vì yêu thương vô vị lợi và “ muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” ( 1 Tm 2 : 4). Nghiã là Chúa muốn cho mọi người được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Người trên Thiên Đàng, là nơi không còn đau khổ , bệnh tật, nghèo nàn, bất công và chết chóc nữa.
Hạnh phúc Thiên Đàng là hạnh phúc  mà mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe  lòng người chưa hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người. ( 1 Cor 2: 9) Như Thánh Phaolô đã viết.
Nhưng muốn hưởng  hạnh phúc Thiên Đàng thì phải yêu mến Chúa và tuân giữ các giới răn của Người.
Tại sao ?   tại vì Thiên Chúa là tình thương” nên ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa” ( 1 Ga 4 : 8)
Biết Thiên Chúa là tình thương , mà quả thật Người là tình thương thì lẽ tự nhiên ta phải  yêu mến Người  với tất cả tâm trí và nghị lực để đáp trả phần nào tình thương quá lạ lùng của Chúa dành cho con người. Vả Lại, yêu mến Chúa chỉ có lợi cho ta chứ  Chúa không được lợi lộc gì vì Người đã quá đủ hạnh phúc , giầu sang nên không cần ai thêm gì cho Người nữa.
Tuy nhiên, vì Thiên Chúa tạo dựng con người với hai đặc tính độc đáo là có lý trí và ý muốn tự do ( intelligence and free will) và  Thiên Chúa  hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng hai khả năng đó, nên vấn đề thưởng  phạt mới được đặt ra cho riêng con người mà thôi.Nghĩa là nếu con người , qua lý trí, nhận biết có Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất và muôn vật – trong đó có con người- thì con người phải sử dụng ý muốn tự do của mình để chọn yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người để được cứu rỗi và vui hưởng hạnh phúc Nước Trời, chiếu theo ánh sáng của lời Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa là:
  “ Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa !, Lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu,  nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi.” ( Mt 7 : 21)
Nhưng thế nào là thi hành ý muốn của Chúa Cha ?
Chúa Giê su đã chỉ rõ cho ta cách thi hành ý muốn của Chúa Cha như sau :.
ai yêu mến Thầy , thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người  ấy. ( Ga 14: 23)
Giữ lời Thầy có nghĩa là thực thi những gì Chúa đã rao giảng và dạy bảo  , cụ thể là hai Điều Răn quan trọng nhất, đó là mến Chúa và yêu người, như Chúa đã nói với một luật sĩ  Do Thái xưa. ( Mt 22: 37-39)
Như vậy , thực thi hai Điều Răn đó là chứng minh cụ thể lòng yêu mến Chúa và xứng đáng được “ Cha Thầy và Thầy đến ở” với ta như Chúa Giê su nói trên đây.
Là con người , ai lại không muốn hạnh phúc, sung sướng và bình an ? nên yếu mến Chúa là yêu mến  chính nguồn hạnh phúc, an vui  vĩnh cửu đó.Như thế, chỉ có lợi cho con người khi chọn  yêu mến Chúa, chứ tuyệt đối không có lợi lộc gì cho   Chúa hết. Chúng ta phải xác tín điều này, để đừng ai nghĩ rằng Thiên Chúa  được lợi lộc gì khi ta yêu mến và tuân giữ các giới răn của  Người. .
Đó là điều chắc chắn ta phải tin khi thi hành các Điều Răn của Chúa để không giết người, trộm cắp. gian dâm, thông dâm, mãi dâm, ấu dâm, phái thai, ly dị, thù oán người khác, kỳ thị chủng tộc, nói xấu , vu cáo làm hại  danh dự và đời tư  của người khác, bất công , bóc lột  người làm công cho mình, và dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của anh chị em đồng loại.
Nếu ta tuân giữ các Điều Răn của Chúa để không làm những sự dữ  hay tội lỗi nói trên, thì chúng ta đã yêu mến Chúa cách cụ thể  để được “ ở lại trong tình thương của Người” như Chúa Giêsu đã dạy trên đây. Ngược lại,  nếu ai dùng “ ý muốn tự do= free will để làm những sự dữ nói trên thì đã tự  ý  và công khai khước từ Thiên Chúa và tình thương của Người. Như thế họ phải lãnh chịu mọi hậu quả của việc mình làm vì tự do chọn lựa.
Chính vì con người có tự do để chọn lựa , hoặc sống theo đường lối của Chúa để được chúc phúc;   hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình và chạy theo những lôi cuốn của thế gian , nhất là những cám dỗ của ma quỉ để tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất và mọi thú vui vô luân vô đạo,  như thực trạng sống của  con người ở khắp nơi trong thế gian tục hóa ngày nay.Nếu ai chọn sống  như vậy, thì  cũng đã tự ý chọn nơi cư ngụ cuối cùng cho mình, sau khi phải chết trong thân xác có ngày phải chết đi này.Thiên Chúa yêu thương con người và đã cứu chuộc con người nhờ  Chúa Kitô. Nhưng Thiên Chúa cũng  gớm  ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi và sự dữ  đi ngược lại với bản chất yêu thương, công bình và thánh thiện của Người. .
 Nhưng  cho dù Thiên Chúa quá yêu thương con người như vậy, mà  con người không cộng tác với ơn cứu chuộc  của Chúa Kitô,  bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi sự dữ và tội lỗi thì Chúa vẫn không thể cứu ai được.  Lý do là  Chúa không tiêu diệt hết mọi  tội lỗi  và vì con người  còn có tự do để  cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa , hay khước từ ơn cứu chuộc này để sống theo thế gian và làm nô lệ cho ma quỉ, kẻ thù của Thiên Chúa.
Như vậy, nếu Thiên Đàng là nơi dành cho những ai thực tâm yêu mến Chúa, tuân giữ các giới răn của Người và quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi, thì hỏa ngục phải là nơi dành cho những ai đã  cố ý khước từ Chúa và tình thương của Người để sống theo ma quỷ và làm những sự dữ như giết người, hiếp dâm  và bán con gái nhỏ dại  cho bọn buôn người  cung cấp cho bọn đi tìm thú vui man rợ cực kỳ khốn  nạn là thú “ấu dâm”,  như đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới trống vắng niềm tin này. Như thế, phải có hỏa ngục dành cho những kẻ gian ác đã tự ý chọn cho mình nơi ở vinh viễn xa lìa Thiên  Chúa ngay từ ở đời này. Nghĩa là họ đã tự  ý chọn hỏa ngục vì cách sống của họ, chứ không phải vì Thiên Chúa muốn phạt ai ở chốn này, vì Người là Cha đầy yêu thương và “ không muốn  cho ai  phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người  đi tới chỗ ăn năn hối cải.” ( 2 Pr 3 : 9).
2-    Sự khác biệt giữa hỏa ngục và  Luyên tội :
Chúa Giê su thường nói đến hỏa ngục là nơi lửa không bao giờ tắt ( Mt 5: 22).
Thánh Gioan Tông Đồ đã coi những kẻ sát nhân là những kẻ không có sự sống đời đời ,tức là phải xa lìa Thiên Chúa trong nơi gọi là hỏa ngục:
 “ Phàm ai ghét  anh  em mình, thì là kẻ sát nhân
Và anh  em biết: Không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó” (1 Ga: 15)
Nhưng cần phân biệt điều này: con người dù tội lỗi đến đâu, mà biết sám hối ăn năn thì vẫn  được Chúa thương tha thứ. Cụ thể là Chúa Giêsu đã tha thứ cho người  gian phi ( kẻ trộm lành)  nhận biết tội mình và xin Chúa tha thứ:
Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với  tôi trên  Thiên Đàng.”  ( Lc 23: 39-43) .
Ngược lại, chỉ những ai tội lỗi mà không hề sám hối  để xin Chúa tha thứ , đặc biệt là tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức  tội  hoàn toàn  từ chối lòng thương xót của Chúa cho đến chết , thì sẽ  không bao  giờ được tha thứ,  như Chúa Giê su đã nói rõ trong Tin Mừng Thánh Marcô.( Mc 3: 29)
Lại nữa, những ai chết đang khi mắc tội trọng ( mortal sin) thì cũng chịu hình phạt hỏa ngục, căn cứ theo giáo lý của Giáo Hội. ( X SGLGHCG, số 1035) . Tuy nhiên , cần nói lại là Thiên Chúa không tiền định cho ai phải xuống hỏa ngục , hoặc muốn phạt ai trong nơi “lửa không hề tắt”  này. Nhưng vì con người có tự do trong đời sống thiêng liêng, nên nếu  ai dùng tự do này để xa lìa Chúa , để  tự do làm những sự dữ mà không hề biết ăn năn, xin Chúa thứ tha thì đã tự ý chọn hỏa ngục làm nơi cư ngụ cuối cùng cho mình.
Trái với hỏa ngục , Luyên ngục hay Luyên tội ( Purgatory) là nơi các linh hồn thánh ( holy souls)  được thanh luyện để đạt được sự thánh thiện cần thiết trước khi  vào Thiên Đàng vui hưởng Thánh Nhan Chúa là nguồn vui  hạnh phúc của các thánh và các thiên thần.Các linh hồn đang  “ tạm trú” ở đây là những người đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa, tức  là được bảo đảm về ơn cứu độ, nhưng vẫn cần được thanh luyện để đạt mức thánh thiện cân xứng trước khi  gia nhập hàng ngũ các Thánh trên Thiên Quốc. Các linh hồn thánh này không thể làm thêm việc thiện, và cũng không thể phạm tội được nữa vì thời giờ đã mãn cho họ trên trần gian  này.  Vì thế, trong khi còn được thanh luyện  ở nơi đây, các linh hồn mong đợi các Thánh trên Thiên Đàng và các tín hữu còn sống cứu giúp họ bằng lời cầu nguyện và các  việc lành. Ngược lại, các linh hồn cũng có thể cầu xin đắc lực cho các tín hữu còn sống trên trần thế và trong  Giáo Hội lữ hành. Nhưng các Thánh trên Trời, các linh hồn thánh trong Luyện ngục và các tin hữu còn sống không thể giúp gì cho các linh hồn đã lìa xa Chúa trong hỏa ngục, vì không có sự hiệp thông nào giữa nơi này với Thiên Đàng, Luyện ngục và Giáo Hội đang lữ hành trên trần thế. 
3 - Tín điều các Thánh Thông Công ( communion of  Saints )
Tín điều này dạy: chỉ có sự hiệp thông giữa Giáo Hội vinh thắng ( Triumphal Church) trên trời và Giáo Hội lữ hành ( Pilgrim Church)  trên trần thế cùng với Giáo Hội đau khổ  ( Suffering  Church) trong Luyện Tội. Nghĩa là các Thánh trên Trời , các linh hồn thánh trong Luyện tội và các tín hữu còn sống và đang hiệp thông với Giáo Hội, cả ba thành phần này   được hiệp thông với nhau trong cùng một niềm tin, tôn thờ Thiên Chúa , nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.
Các Thánh nam nữ trên trời hiệp thông với các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các tín hữu trên trần gian bằng lời nguyện giúp cầu thay đắc lực trước Tòa  Chúa  cho các linh hồn và các tín hữu còn sống. Các linh hồn trong Luyện tội không thể tự giúp mình được nhưng có thể cầu xin cho các tin hữu còn sống. Các tín hữu có thể làm việc lành như cầu nguyện. làm việc bác ái và xin lễ cầu cho các linh hồn trong Luyên Tội ( cách riêng trong tháng 11 là thánh dành cầu nguyện cho các linh hồn) được mau vào Thiên Đàng hưởng Thánh Nhan Chúa.
Đó là nội dung tín điều các Thánh thông Công giữa các Thánh trên Thiên Đàng, các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các Tín hữu trên trần thế.
Như thế,  chỉ có những ai đang  xa lìa Chúa  ở chốn hỏa ngục thì   không được thông hiệp với các Thánh trên trời , các Linh hồn trong Luyện tội  và các Tín hữu còn sống  trên trần gian này.Do đó, không ai có thể làm gì để cứu giúp họ được nữa.
Vậy chúng ta hãy cố gắng làm việc lành trong tháng  11 này để cầu cho các linh hồn được mau hưởng Thánh Nhan Chúa.Chắc chắn các linh hồn sẽ biết ơn và cầu xin Chúa cách đắc lực cho chúng ta.
Lm Phanxicô Xaviê  Ngô Tôn Huấn
 
VỀ MỤC LỤC
 
   
 

Hôm qua, một người bạn nhắc tôi đi thăm mộ Cụ Diệm, tôi chợt nhớ đã gần đến ngày giỗ của Cụ, nhanh thật, 52 năm rồi, từ năm 1963 xa tắp đến bây giờ, thời gian qua nhanh, nhiều thay đổi, thời gian quá dài đủ để trắng đen tỏ bày trong lịch sử công minh.
Nhớ những năm xưa, hai ngôi mộ lạnh lùng trong nghĩa trang rộng mênh mông giữa lòng thành phố, người ta còn bảo tên khắc trên mộ không đúng như vậy, dười phần mộ Huynh là Đệ, dưới phần mộ Đệ là Huynh ! Chết rồi vẫn chưa yên mồ mả, hận thù và gian ác thật khủng khiếp. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi “ban” cho thành phố một khoảng trời thinh lặng, nhẹ nhàng mênh mang và sâu lắng, bầu khí nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi mang lại cho con người khung trời sống hồi tâm. Tuổi trẻ Sàigòn chúng tôi vẫn tìm đến mỗi khi mỏi mệt với những quay cuồng của thế sự, suy ngẫm và trải lòng cùng cỏ cây mây gió, cảm giác nhẹ nhàng và bình an sau những giây phút dạo chơi trên con đường già nua giữa nghĩa trang im ắng, lá vàng không ngừng rơi rụng dưới những bước chân lạnh lùng.
Năm mươi hai năm qua rồi, thời gian đủ để phơi bày khá nhiều sự, lịch sử nhân loại cũng như lịch sử đất nước này đảo lộn nhanh đến chóng mặt, nhiều điều bất ngờ nhưng cũng có nhiều điều tất yếu, chẳng cần bàn đến chuyện công-tội, đã có lịch sử làm rõ cuộc đời. Nhớ đến Cụ trong ngày giỗ sắp tới, những điều rút ra được cho bài học làm người nhất là làm người Kitô hữu thật cần thiết cho mỗi người chúng ta, bậc tiến bối cũng như kẻ hậu sinh.
Con người có nhân cách
Nhiều tài liệu dần dần được bạch hóa, xóa vĩnh viễn nhưng câu chuyện đàm tiếu, đơm đặt, vu khống một cách thô lỗ về con người Ngô Đình Diệm. Từ cách ăn mặc, cách tiếp xúc, cách ứng xử với người thân trong gia đình, với người cộng tác, đến chương trình sống và làm việc mỗi ngày của Cụ, tất cả cho chúng ta thấy Cụ là một con người có nhân cách.
Những câu chuyện dựng đứng về đời tư của Cụ chỉ cần 50 năm thôi đã trở thành những trò hoàn toàn bịa đặt một cách độc ác và hèn hạ. Cho đến nay, không một tài liệu nào có thể dẫn chứng về bất kỳ một mối quan hệ bất xứng nào của Cụ với người khác. Với cô em dâu Ngô Đình Nhu, hơn 50 năm sống âm thầm im lặng không một điều tiếng, bà mất đi mang theo những hình ảnh thật đẹp về con người Bà và về người anh đáng kính của chồng Bà. Thời gian thật nhiệm mầu.
Cái cách của Cụ Diệm đã sống, yêu thương và bao bọc mọi người, lấy sự sống phồn thịnh của người dân làm mục đích, lấy sự độc lập của dân tộc làm kim chỉ nam, lấy sự bình an và mạng sống của nhiều người làm tôn chỉ, và nhất là những quyết định của Cụ trong những giờ phút cuối đời để không phải đổ máu nhiều người, càng làm nổi bật những nét nhân cách này.
Con người có đạo đức
Tài liệu để lại về Cụ cho thấy rõ Cụ là con người rất đạo đức, những tấm ảnh chụp mỗi sáng Cụ vào Nhà Nguyện để dâng Thánh Lễ và quỳ cầu nguyện lâu giờ như một thầy tu. Những lần xuất ngoại công tác, Cụ không ở trong nhà khách với các tiện nghi sang trọng dành cho quốc khách, Cụ tạm trú trong một Tu Viện gần nơi làm việc, vẫn tiếp tục dành giờ để cầu nguyện riêng trong bầu khí thánh thiêng.
Trong ngày cuối cùng của cuộc đời nhân thế, nơi Cụ chọn để tạm trú lại cũng là một ngôi Nhà Thờ, Nhà Thờ Cha Tam trong Chợ Lớn. Cụ đã dành những giờ phút đầy nhiễu nhương tao loạn cuối đời cho việc cầu nguyện trước khi gọi điện nộp mình cho những người sẽ sát hại Cụ. Có kẻ độc miệng cho rằng Cụ đóng kịch, vậy ai đó hãy cứ thử đóng kịch được như vậy ?
Con người bị phản bội
Bên cạnh những tia sáng nhân đức trong đạo ngoài đời như thế, bóng tối của sự phản bội vẫn hung hăng kéo một phần ba tinh tú trên trời xuống đất. Có thể nói, tất cả những kẻ đóng những vai chủ chốt trong cuộc chính biến 1.11.1963 toàn là những kẻ đã được chính Cụ yêu thương, cất nhắc, và thậm chí được Cụ nhận làm… con nuôi ! Đau đớn là như vậy. Hàng tướng lãnh bất tài, háo danh, kiêu ngạo, mê quyền lực và nhất là có tâm địa và hành động phản trắc hèn hạ đã đẩy miền Nam và đẩy cả đất nước này lao đao cả nửa thế kỷ vừa qua. Sự Dữ đã hoành hành như muốn nhận chìm tất cả…
Con Chiên chịu sát tế
Hôm qua tôi có dịp dùng cơm với một vị Giám Mục đáng kính, ngồi giữa 4 anh em Linh Mục thân hữu như con cái của ngài, ngài bộc bạch suy tư: “Chúa Giêsu sinh ngoài đồng, sống ngoài đường, chết ngoài đồi, Chúng ta sẽ không có cách sống nào khác ngoài cách sống ấy”.
Cụ Ngô Đình Diệm đã chọn sống cho người khác, sống kết thân với Chúa và sống đối đầu với Sự Ác, Cụ không có con đường nào khác ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi, quả thật Cụ đã bị sát tế nên giống như Thầy Chí Thánh của mình.
Là Kitô hữu, chúng ta có hiểu và chấp nhận điều đó không ? Hay lại tìm sự thỏa hiệp và từ chối thập giá ?
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 24.10.2014
VỀ MỤC LỤC
 
   
  

CUỘC CHIẾN THIÊNG LIÊNG THEO THÁNH KINH, TRONG HỘI THÁNH & NƠI CÁC THÁNH - ONWARD CATHOLIC SOLDIER
 
Chương 3 – CÁM DỖ
 
Anh em hãy canh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối (Mc 14, 38).
Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi. Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người (Cl 1, 13-17).
Cách đặc trưng, cuộc chiến thiêng liêng mặc ba hình thức: cám dỗ, ám ảnh và chiếm hữu. Cám dỗ, khi ma quỷ xúi bạn phạm tội từ bên ngoài, qua vui thú giác quan; hoặc bên trong, qua lầm lạc của hiểu biết hay ý chí. Ám ảnh, khi ma quỷ tấn công thân xác bạn từ bên ngoài. Chiếm hữu, khi ma quỷ điều khiển một linh hồn. Cả ba hình thức trên đều có chung một mục đích là cản trở hoặc ngăn ngừa con người đến với điều lành.
Cám dỗ là vũ khí thông thường nhất trong kho vũ khí của Satan, không ai tránh khỏi cũng như không ai không biết nó. Ám ảnh có thể được chia thành một vài phạm trù nhỏ [công kích, áp bức, quấy phá, .v.v..]. Vì mục đích cuốn sách, các phạm trù khác biệt nhau này sẽ được gộp chung lại và được gọi là quấy phá. Chiếm hữu thật sự, phạm trù thứ ba đòi phải được trừ tà; nó rất ít xảy ra và vượt quá phạm vi cuốn sách này.
Tôi không nói, không ai bị quỷ ám vì tôi biết điều đó vẫn xảy ra; nhưng tôi nói, số này rất ít (Thánh Antôn Mary Claret).
Cám dỗ là dụ dỗ phạm tội. Tội, theo nghĩa chặt, không phải là dụng cụ của Satan. Đúng hơn, tội là hậu quả của việc phó mình cho cám dỗ, không thành vấn đề gốc gác cám dỗ đó là gì. Cám dỗ là một phần thực tại của con người. Cám dỗ không nằm trong ý định tạo dựng của Thiên Chúa nhưng được Người cho phép xảy ra. Cần lưu ý, cám dỗ không đồng nghĩa với tội. Bao lâu không có sự đồng thuận của ý chí, bấy lâu cám dỗ không phải là tội.
Trong mọi cám dỗ, cơ cấu chỉ là một; ở đó gồm ba giai đoạn. Trước hết là gợi ý của ma quỷ; điều này kéo theo bởi sự vui thoả của trí tưởng tượng. Hậu kết của tiến trình cám dỗ chính là quyết định của ý chí. Nếu quyết định của ý chí thể hiện tán thành cám dỗ, cám dỗ dẫn đến việc phạm tội. Nếu quyết định của ý chí thể hiện việc tống khứ cám dỗ, cám dỗ sẽ không dẫn đến tội. Thật quan trọng để ghi nhớ tiến trình này. Buổi đầu, cám dỗ chưa phải là tội; dẫu thế, cám dỗ có thể dẫn đến tội vốn làm bạn xa cách Thiên Chúa. Vậy trong mọi lúc, hãy canh chừng và đừng bao giờ lo lắng.
Thôi thúc đầu tiên không thuộc về chúng ta, nhưng là cái tiếp theo (Thánh Bernadette Soubirous).
Con người bị cám dỗ theo ba cách: thế gian, xác thịt và ma quỷ. Xác thịt nhắm điều khiển thể xác, thế gian nhắm chế ngự thể xác cùng tinh thần; và ma quỷ nhắm thu tóm cả ba, thể xác, tinh thần và linh hồn bạn. Xác thịt cám dỗ từ bên trong, thế gian cám dỗ từ bên ngoài và ma quỷ kết hợp cả hai. Cám dỗ của thế gian và xác thịt được diễn tả trong câu Thánh Kinh dưới đây.
Vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian (1 Ga 2, 16).
Ước muốn của xác thịt, dục vọng của đôi mắt và tính kiêu ngạo là những cám dỗ chính của thế gian và xác thịt. Đây cũng là ba cám dỗ Adam và Eva không chống trả nổi đang khi Đức Giêsu toàn thắng chúng. Cả hai trường hợp, ai gây nên cám dỗ? Loại thứ ba, chính ma quỷ là tên cám dỗ đầu tiên, xưa nay đều như vậy.
Peter Kreeft, trong cuốn Back to Virtue, nói, “Như chúng ta biết, cám dỗ đến từ thế gian, xác thịt và ma quỷ; nhưng thế gian và xác thịt sẽ vô can vì nó không thuộc về ma quỷ. Nói như thế, không phải để miễn chấp thế gian và xác thịt vì cả hai đều gây nên tội, nhưng phải nói rõ ràng rằng, kẻ thù đích thực chính là Satan.
Trong Tổng Luận Thần Học, thánh Tôma Aquinô nói Satan là “nguyên nhân mang tính thời cơ và gián tiếp của mọi tội lỗi nhân loại” qua việc nó đánh bại Adam, nhưng Satan không là “nguyên nhân trực tiếp của mọi tội lỗi con người”. Đôi khi, tội của bạn là do chính bạn, nhiều lúc trách nhiệm của bạn lại nhiều hơn. Thoạt nhìn, chỉ thấy thế gian, xác thịt cám dỗ nhưng rồi, nhìn bao quát hơn, chúng ta thấy mọi sự là do ma quỷ.
Những nuông chiều xấu xa thầm kín của chúng ta nguy hiểm hơn nhiều so với bất cứ kẻ thù bên ngoài nào (Thánh Ambrôsiô).
Hãy xem, hỡi các con là những kẻ mù loà, các con bị lừa phỉnh bởi kẻ thù của mình: thế gian, xác thịt và ma quỷ. Bởi lẽ, thật ngọt ngào cho thân xác khi phạm tội nhưng lại cay đắng cho nó khi phụng sự Thiên Chúa (Thánh Phanxicô Assisi).
Không phải mọi tội đều do ma quỷ xúi giục, nhưng một vài tội bắt nguồn từ ý chí tự do và thân xác hư hỏng của chúng ta (Thánh Tôma Aquinô).
Cám Dỗ Của Xác Thịt
Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm (Rm 7, 19).
Cám dỗ xác thịt cháy bỏng bởi nhục dục, một thiên hướng tự nhiên nơi con người dẫn đến tội lỗi. Nhục dục là một hậu kết còn lại của tội nguyên tổ. Rõ ràng, bạn đang giao chiến với chính xác thịt mình. Xác thịt cám dỗ bạn theo hai cách: lôi cuốn bạn đến với sự dữ, dẫn dụ bạn xa rời điều lành. Một sự hiếu kỳ không lành mạnh và những quyến luyến quá mức hình thành bởi những vui thú thế tục và của cải trần gian. Sự đeo đuổi ích kỷ những thú vui làm tê liệt khát khao tìm kiếm tình yêu Thiên Chúa nơi bạn.
Dục tình hỗn loạn là hiệu báo cho Satan rằng, nó sắp chiến thắng một cuộc chiến đặc biệt nào đó. Theo đuổi những sở thích chính đáng của việc luyện tập thân thể có thể ngăn ngừa ma quỷ đến gần; nhưng dấn mình vào những thú vui vốn làm hư hỏng những sở thích chính đáng ấy là mở cửa cho tình dục, dự định chính yếu mà Satan nhắm đến. Nó muốn tách khả năng sinh sản khỏi tình dục và tách tình dục khỏi việc sinh sản. Thực tế, nó đang mời bạn trở thành thần linh của chính mình và dùng tình dục vốn là quà tặng của Thiên Chúa để dẫn bạn đến mưu đồ của nó. [Thật không may, nó thường rất thành công trong việc thi hành chương trình này. Hãy coi tác động lớn lao của việc ngừa thai, phá thai, đồng tính, thụ tinh trong ống nghiệm, nhân bản và những nghiên cứu tế bào gốc].
Tò mò những gì thuộc về thế gian tục lụy, cách riêng qua đôi mắt, có khuynh hướng khuấy động bản tính xác thịt. Giữ gìn đôi mắt giúp gìn giữ tâm hồn trong sạch và linh hồn thanh khiết. Việc để cho xác thịt theo đuổi và đôi mắt đắm chìm vào những thứ rác rưởi của thế gian sẽ dẫn đến những quyến luyến và ràng buộc không lành mạnh. Xác thịt cám dỗ bạn bằng chủ nghĩa duy vật, tính tham lam, sự quá độ và nuông chiều bản thân. Theo cách ấy, bạn giúp Satan đạt mục đích của nó và bạn đã tự đặt mình trong vương quốc của nó, vậy là đối nghịch với Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa sẽ được phép cắm rễ trong cuộc đời bạn nếu bạn không quyến luyến một điều gì.
Bao lâu chưa tẩy trừ những quyến luyến, người ta không thể được trang bị để chiếm hữu Thiên Chúa (Thánh Gioan Thánh Giá).
Ma quỷ thống trị những người yêu mến của cải thế gian vốn thuộc về thế gian, không phải vì nó là chủ tể thế gian nhưng vì nó là chủ của những ước muốn thèm thuồng; qua đó, con người khao khát bao nhiêu điều vốn rồi sẽ qua đi (Thánh Augustinô).
Yêu mình là gương soi của sự chết. Satan không bao giờ vui hơn khi bạn tích cực học đòi bắt chước nó bằng cách noi gương kiêu ngạo của nó. Xác thịt cám dỗ bạn đến với quyền lực, danh vọng, địa vị và cậy mình. Nó dẫn dụ bạn sử dụng mọi thèm muốn xác thịt bằng mọi phương cách thế gian. Điều này dẫn đến tham ăn, nhục dục, thèm muốn, .v.v.. Càng dán mắt vào gương cậy mình và đắm say những hình ảnh mắt bạn nhìn thấy, bạn càng ít có khả năng nhìn xem Thiên Chúa. Càng ít nhìn ngắm Thiên Chúa, bạn càng là đối tượng mưu toan ngấm ngầm của Satan.
Đừng ăn không ngồi rồi để xác thịt điều khiển mình, phải chống lại cám dỗ để cho xác thịt điều khiển. Bạn phải hành xác và bắt nó phục tùng ý chí. Hãy để xác thịt nặng nề, sự tội và “con người cũ” chết đi. Hãy chết cho chính mình và sống cho Đức Kitô trong lời nói việc làm. Bạn phải đóng đinh con người cũ hư hỏng đầy nhục dục vào thập giá để có thể trở thành “con người mới” trong Đức Giêsu Kitô (x. Cl 3, 9-10; 2 Cr 5, 17; Gl 2, 20). Bạn phải tìm kiếm sự trong sạch chứ không phải sự đồi trụy. Bạn phải để lại phía sau những sa đoạ xấu xa. Là một chiến sĩ thiêng liêng, bạn hãy sống bằng việc chết đi. Hãy làm điều đó với ân sủng trong niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô. Hãy cầu xin ơn này. Hãy cầu nguyện tích cực, cầu nguyện bền bỉ và cầu nguyện thường xuyên.
Yêu mình là nguyên nhân mọi đau khổ khiến chúng ta bất xứng để đón nhận bao ân huệ tình yêu của Thiên Chúa (Thánh Ignatiô Loyola).
Không phải của cải thế gian, nhưng là Thiên Chúa; không phải giàu có, nhưng là Thiên Chúa; không phải danh vọng, nhưng là Thiên Chúa; không phải chức tước, nhưng là Thiên Chúa; không phải cất nhắc đề bạt, nhưng là Thiên Chúa. Thiên Chúa trên hết và trước hết trong mọi sự (Thánh Vincent Pallotti).
Đức Thánh Khiết, hoàng hậu của các nhân đức, nhân đức của các thiên thần, là viên ngọc quý... đến nỗi ai có được nó sẽ như các thiên thần trên trời của Thiên Chúa dẫu họ vẫn mặc chiếc áo xác thịt hay chết (Thánh Gioan Bosco).
Cám Dỗ Của Thế Gian
Thế gian đang qua đi cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi (1 Ga 2, 17).
Vì sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như có lời chép rằng: Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng (1 Cr 3, 19).
Cám dỗ của thế gian là những gương xấu chất chứa bao đời của người Kitô hữu được chào mời bởi những ai sở hữu tất cả những gì mà thánh Augustinô nói đến trong cuốn “Đô Thị Con Người” [như là đối nghịch với “Đô Thị Thiên Chúa”]. Satan, lãnh chúa của đô thị này, gợi hứng cho những người không tin, những kẻ vô tri, những người nguội lạnh, những kẻ vô luân, những kẻ gây nên tội lỗi, .v.v.. rao truyền tà thuyết của nó khắp mọi hang cùng ngõ hẻm trên trần gian. Như một virus chết người, vô chừng và bất định, nhiều người sẽ đi theo nó.
Cám dỗ của thế gian thông thường là cám dỗ hướng con người phạm tội cách thụ động hơn là chủ động phạm tội. Thông thường đó là một tội thiếu sót hơn là một tội mang tính cam kết, ít nữa lúc đầu. Đô Thị Con Người mở ra một sườn dốc trơn trượt đầy những cám dỗ thế tục cho những ai thoả hiệp, những ai nhượng bộ, những ai đứng núi này trông núi nọ. Các nhà lãnh đạo chính trị, lãnh đạo Giáo Hội và các gia đình đang bồng bềnh trên sóng nước ngày càng dâng cao đầy hiểm nguy. Những người mù quáng, những ai theo họ sẽ rơi xuống vực thẳm. Bạn phải chống lại cám dỗ muốn đi theo họ cách mù quáng, để rồi khiển trách người khác và đánh mất hy vọng. Mặc dầu tạm thời, bạn còn là công dân Đô Thị Con Người, nhưng nơi ở vững bền bạn nhắm đến chính là Đô Thị Thiên Chúa.
43. Như những công dân của cả hai đô thị, chúng ta hãy nỗ lực để trung thành chu toàn những bổn phận trần thế và luôn hành động theo tinh thần của Tin Mừng (Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng).
Quả vậy, mọi chuyện trên thế gian đang ở tình trạng xấu xa; nhưng nếu con và ta bắt đầu sửa đổi chính mình cách nghiêm túc, thì thật sự, một khởi đầu tốt lành sắp được thành hình (Thánh Phêrô Alcantara).
Đừng bao giờ quên rằng, chúng ta hoặc là các thánh hoặc là những kẻ bị tống ra ngoài; phải sống cho thiên đàng hay địa ngục; ở đây, không có con đường lưng chừng. Hoặc con hoàn toàn thuộc về thế gian hoặc con hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Nếu ai ai cũng làm cho Thiên Chúa như họ đang làm cho thế gian thì con số tín hữu trên thiên đàng sẽ đông đảo biết bao (Thánh Gioan Maria Vianney).
Christ - Centered Selling, cuốn sách xuất bản trước đây của tôi, mô tả chi tiết cuộc chiến chống lại việc tìm kiếm an ủi khi hoạt động trong thế gian. Ngay từ đầu, cuốn sách nhấn mạnh sứ điệp Tin Mừng không phải là một kinh nghiệm “chỉ dành cho ngày Chúa Nhật”; sứ điệp của nó cần được sống mọi ngày, mỗi ngày. “Thách đố ở chỗ, sứ điệp của Đức Kitô không chỉ được sống sáng Chúa Nhật, nhưng còn sáng thứ Hai, sáng thứ Ba, tối thứ Tư, chiều thứ Năm và cả ngày thứ Sáu, thứ Bảy nữa. Bạn phải sống trong thế gian mà không tìm an ủi từ nó. Như Đức Kitô đã nói, bạn ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”.
Là một dũng sĩ của cuộc chiến thiêng liêng, bạn không thể sống một cuộc sống chia cắt: công việc và gia đình ở đây, đức tin và vui đùa chỗ khác. Công việc của Thiên Chúa phải là công việc của bạn. Đức tin không phải là một cái gì chợt nảy ra; đức tin phải là nền móng của tất cả những gì bạn thực hiện. Sự bất nhất là cánh cửa rộng mở cho Satan lẻn vào. Bất nhất là yếu nhược của ý chí vốn làm cho sự kìm kẹp của Satan thêm mạnh mẽ.
Liệu có phù hợp không khi chúng ta tuyên xưng đức tin của mình trong nhà thờ ngày Chúa Nhật, rồi sau đó suốt cả tuần lo chuyện bán buôn, thuốc thang... trái nghịch với niềm tin đó? Liệu có phù hợp không khi người công giáo sống đạo để bỏ qua hay bóc lột người nghèo và những người bên lề xã hội, khi khuyến khích tình dục trái với giáo huấn của Hội Thánh hay làm theo những lập trường trái nghịch với quyền sống của mỗi người từ khi thụ thai cho đến ngày lìa đời cách tự nhiên? (Giáo Hoàng Bênêđictô XVI).
Hơn bao giờ hết, ở thời đại chúng ta, sức mạnh chính của phường xấu xa phát xuất từ sự hèn nhát và yếu nhược của những người tốt lành; đồng thời, quyền thống trị của Satan ngày càng mạnh mẽ là do sự sa ngã dễ dàng của người Kitô hữu (Thánh Piô X).
Hãy lưu tâm đến công việc của Thiên Chúa, Người sẽ dõi mắt đến công việc của chúng ta (Thánh Vincent Phaolô).
Sống theo kiểu thế gian dẫn đến ngờ vực, ngờ vực đưa đến sợ hãi và sợ hãi đưa đến bất hạnh. Thế gian nhẫn tâm, không thương xót, không hứa hẹn một tương lai, cũng chẳng khơi dậy một niềm hy vọng; kết cục của nó là sự chết. Ai được thế gian ủi an, sẽ sống trong sợ hãi, một sự sợ hãi chính sự chết của mình. Đó là lý do tại sao phần lớn những người tự phụ mất nhiều thời gian để tập trung vào dáng vẻ bên ngoài và dựng lên những đài tưởng niệm về chính mình.
Thực tế là thế gian ghét các Kitô hữu. Điều đó luôn luôn là một sự thật. Có thể sẽ thiếu tế nhị, thiếu chính xác hoặc không cẩn trọng khi nói thẳng thắn như thế; nhưng, đó là sự thật. Những tiêu chí thế gian đưa ra tự bản chất là đối nghịch với những chân lý của Kitô giáo. Đừng chấp nhận những tiêu chí thế tục này. Hãy cẩn thận chọn cho mình những gương sáng. Hãy để mình được bao quanh bởi những ai khao khát Đô Thị Thiên Chúa, đô thị của tin yêu và hy vọng. Đừng giao du với những người quá thế tục, phương chi là với những người xấu xa. Đừng dại dột khi chọn bạn; hãy trở nên dại dột vì Đức Kitô. Khôn ngoan và đường lối của thế gian là điên rồ đối với những ai theo Ngài.
Thế gian ghét các Kitô hữu; vậy tại sao con lại yêu mến nó thay vì đi theo Đức Kitô, Đấng yêu thương và cứu chuộc con? (Thánh Cyprianô Carthage).
Hãy cao chạy bay xa khỏi những người bạn xấu như chạy khỏi cú ngoạm của loài rắn độc. Ta có thể bảo đảm với con rằng, nếu con có những người bạn tốt, ngày kia con sẽ được chúc phúc trên trời; trái lại, nếu giao du với những người xấu, bản thân con sẽ trở nên xấu và có nguy cơ đánh mất linh hồn (Thánh Gioan Bosco).
Khi bẩy chim, người ta dùng chim mồi để nhử, chúng bị may mắt và buộc chân để không thể bay đi. Đó là cách thức ma quỷ hành động (Thánh Alphonsô Liguôri).
 Theo Thánh Kinh, đặc biệt Tân Ước, quyền thống trị và ảnh hưởng của Satan cùng các thần dữ hiện đang bao trùm khắp thế giới. Hoạt động của Satan trước hết, cốt ở chỗ cám dỗ con người hướng chiều về điều dữ bằng cách tác động trí tưởng tượng và những năng lực cao hơn nó nhằm lôi kéo nó xa rời lề luật của Thiên Chúa (Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II).
Khi ma quỷ được gọi là chúa tể thế gian, không phải bởi nó tạo dựng thế gian nhưng bởi chúng ta phụng sự nó với tính trần tục của mình (Thánh Tôma Aquinô).
Hãy xem cho kỹ, lòng dạ người đời đổi dời biết bao; chúng ta tin họ được bao nhiêu? Hãy bám chặt Thiên Chúa, Đấng không bao giờ đổi thay (Thánh Têrêxa Avila).
Cám Dỗ Của Ma Quỷ
Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Ngài, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ (Lc 4, 13).
Satan, vật ký sinh luôn chớp lấy thời cơ. Một khi bạn được rửa tội, nó chỉ có thể bám đeo bạn theo mức bạn cho phép. Ngoài sự đồng ý của bạn, nó không có một quyền hành nào để có một chỗ trong linh hồn bạn. Ý chí của bạn là cửa ngõ, qua đó, nó đi vào nhưng chỉ với sự đồng thuận của bạn. Tội ở chỗ bạn đồng ý với nó, đó là lúc bạn nói “không” với Thiên Chúa và nói “có” với Satan. Trong khi Satan được phép cám dỗ và quấy phá bạn mà bạn vẫn ở trong ân sủng Chúa, nó cũng không bao giờ được phép hành hạ ý chí tự do của bạn. Nó không thể chộp linh hồn bạn nếu không có sự đồng ý của bạn, dù cho mặc nhiên hay cố ý.
Tự nó, ma quỷ không thể thống lãnh một linh hồn nếu nó không liên minh với ý chí tự do của người đó (Thánh Piô Pietrelcina).
Chúng ta được sinh lại trong Bí tích Thánh Tẩy, được giải thoát khỏi cảnh nô lệ và trở nên tự do, kẻ thù không tài nào ra tay làm hại chúng ta trừ phi ý chí chúng ta tùng phục nó (Thánh Symeon, The New Theologian).
Thật quan trọng để nhớ rằng, bạn có thể tránh được bao nhiêu vấn đề bằng việc chỉ để lòng trí và ý chí tòng phục ý muốn Thiên Chúa, khi bạn tự do nói “có” với Chúa, nói “không” với Satan. Trong khi ma quỷ có thể gia tăng cấp độ cám dỗ hay quấy phá, ít nữa là buổi đầu, thì bao lâu ý chí của bạn không đồng ý với thần dữ, bạn vẫn tự do trước tên ăn bám xấu xa đó. Với ơn Chúa, Satan không hại được bạn.
Tâm trí điều khiển cả xác lẫn hồn dưới sự bảo vệ của áo giáp thánh, vì khi tâm trí tự nó tuỳ thuộc Thiên Chúa, sẽ nhận được áo giáp cứu độ (Thánh Paulinus Nola).
Satan ma mãnh, lắm thủ đoạn nhằm mưu toan tiêu diệt bạn. Nó tìm những chỗ yếu và cám dỗ bạn đúng ngay điểm đó. Nó là một chuyên gia thông thạo việc quan sát. Nó để ý những khuynh hướng xấu nơi bạn để cám dỗ cách phù hợp. Hoặc nó xúi bạn làm điều xấu, hoặc khuyến khích bạn làm nhiều hơn một việc lành nào đó - một việc vô thưởng vô phạt, không có lợi cho ai cả - hoặc nó khiến bạn nhận thức một điều lành nơi không có... để cám dỗ bạn tự kiêu, khoác lác hay đam mê... Nó là tên lừa gạt. Ban đầu, nó phỉnh phờ; sau đó, nó đặt bẫy.
Như viên tướng tài sắp vây hãm một thành trì vững chắc, Satan tìm những điểm yếu làm mục tiêu tấn công. Nó tìm cách dụ dỗ một ai đó trong hàng ngũ quân địch, ở đó, kẻ ấy thấy mình thật yếu (Thánh Tôma Aquinô).
Với sự chú tâm đầy hiểm độc, kẻ thù tinh quái quan sát xem coi lương tâm chúng ta thuộc loại nào, hoặc là tinh tế hoặc là thoải mái. Nếu là tinh tế, nó sẽ tìm cách đem đến sự lặng lẽ dễ chịu; nó ra sức giảm thiểu tối đa những bối rối và đau đớn nhằm chặn đứng những tiến bộ trên đường thiêng liêng (Thánh Ignatiô Loyola).
Trong những nỗ lực nhằm lường gạt con người, Satan cực kỳ thông minh. Nó khoái trá khai thác bao cám dỗ thế gian xác thịt để bạn dễ dàng rơi vào cạm bẫy của nó. Hệ quả của việc kết hợp ba cám dỗ này không chỉ làm thành cấp số cọng nhưng là cấp số nhân. Do nhục dục, ảnh hưởng của ba cám dỗ này tập hợp lại sẽ mạnh mẽ hơn từng cám dỗ riêng lẻ. Tất cả lại bốc cháy nơi Satan bởi sự thù ghét Thiên Chúa và những ai yêu mến Người.
Cám dỗ của ma quỷ mạnh mẽ hơn nhiều so với cám dỗ của thế gian và xác thịt, bởi ma quỷ tự củng cố chính mình bằng những cám dỗ của thế gian và xác thịt nhằm dấy lên một cuộc chiến bạo tàn (Thánh Gioan Thánh Giá).
Không ai ghét Thiên Chúa hơn ma quỷ. Để trả thù Người, nó tiêu diệt chúng ta, xúi chúng ta phạm tội (Chân Phước Têrêxa Calcutta).
Chẳng hạn, bạn thử tưởng tượng một người dị ứng với việc ong đốt. Dị ứng, điều này ngoài ý muốn, không phải là tình trạng tự nhiên của con người anh ta. Có lẽ đó chỉ là một khiếm khuyết mang tính di truyền được thông chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cách tương tự, bạn nghĩ sự yếu đuối kế thừa này như yếu đuối về tính dục chẳng hạn.
Phản ứng do dị ứng gây nên bởi một hai lần ong đốt có thể là nguyên nhân dẫn đến việc chữa trị và theo dõi hoàn cảnh bệnh nhân. Được chữa trị đúng đắn và kịp thời, điều này thường không phải là một cái gì đe doạ mạng sống. Vậy mà, dẫu cho việc chữa trị thành công, một phần còn lại nào đó vẫn tồn tại. Cái còn lại này vẫn có thể đòi được chữa trị nhiều hơn đối với những lần ong đốt trong tương lai. Dĩ nhiên, nếu không chữa, chỉ một lần ong đốt, thậm chí vẫn có thể dẫn đến cái chết.
Các tội đã phạm, trọng hay nhẹ, dẫu đã được tha, vẫn làm gia tăng sự thèm muốn cũng như yếu đuối trong chúng ta; gia tăng mâu thuẫn cũng như những khuynh hướng xấu trong chúng ta; đồng thời cũng để lại một tàn tích xấu nơi linh hồn (Thánh Louis Montfort).
Satan không đốt như một con ong bình thường, nó đốt như một con ong giết người đốt, đốt tàn nhẫn, đốt tới tấp. Nó không chỉ phóng độc, nhưng phóng những nọc độc cháy bỏng lửa. Nó cũng thích giăng bẫy. Ban đầu, những cạm bẫy này xem ra vô hại, chúng quyến rũ bạn tiến sâu vào bóng tối. Như một sườn đồi xinh xắn dẫn đến vách đá cheo leo, cạm bẫy của Satan đặt ra để lừa phỉnh bạn cũng như thế. Satan có thể tạo nên một điều lành, nhưng có thể đó chỉ là cạm bẫy. Nó đặt bẫy với những bả mồi dẫn đến bao cám dỗ làm bạn bối rối, buồn chán, bận rộn hay khoác lác. Đừng đụng đến mồi nhử, bạn sẽ tránh được cạm bẫy của nó.
Ma quỷ có thể làm ầm lên nhưng không thể châm độc trừ phi người ta để cho nó châm (Thánh Augustinô).
Ma quỷ chỉ cám dỗ những linh hồn ước ao từ bỏ tội lỗi và những linh hồn sống trong ân sủng Chúa. Còn những linh hồn đã thuộc về nó, nó đâu cần cất công (Thánh Gioan Maria Vianney).
Cạm bẫy của ma quỷ không tóm được con trừ phi thoạt tiên, con đã vướng phải bả mồi của nó (Thánh Ambrôsiô).
Chừng nào ma quỷ thấy một điều gì đó có thể phỉnh gạt được thì nó không bắt đầu bất cứ một điều gì khác, thậm chí nó không biết phải làm điều gì trước điều gì sau. Vì vậy, khi thấy không thể chiếm đoạt, bóp nghẹt hay phá huỷ những gì đã được gieo rắc, nó lại tạo nên một thứ lừa phỉnh mới, tức là vãi gieo một loại hạt giống khác (Thánh Gioan Kim Khẩu).
Phạm tội khiến chúng ta trở nên xa lạ đối với Thiên Chúa và trở thành đối tác của ma quỷ (Thánh Basiliô Cả).
Xấu Xa
Anh em thân mến, anh em đang bị lửa thử thách: đừng ngạc nhiên mà coi đó như một cái gì khác thường xảy đến cho anh em. Được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ (1 Pr 4, 12-13).
Chiến thuật cám dỗ đầu tiên của Satan là tìm cách làm bạn nên xấu. Nó không công khai điều này; đúng hơn, kín đáo và tinh tế. Một cách ma mãnh, nó gợi lại những tội bạn vừa phạm hoặc ước ao phạm [nó theo dõi và ghi nốt thảy thảy]. Nó bắt đầu với những tội nhẹ, thậm chí có thể với một điều gì đó không hẳn là tội. Nó kiên nhẫn đợi chờ. Một khi bạn vui lòng đáp lại điều nó gợi ý, ít nữa theo cái nhìn của nó, nó sẽ gia tăng niềm vui cùng với cám dỗ. Sau khi đạt được từ chỗ đặt một ngón chân sang chỗ đặt một bàn chân trên đất bạn, nó lại tăng thêm sức ép của cám dỗ với hy vọng đưa nó từ một hành động tìm cơ hội đến một tiến trình cám dỗ thực thụ. Là một chiến sĩ trong cuộc chiến thiêng liêng, cảm thấy mình xấu xa là một điều hết sức hiểm nghèo. Nó sẽ khởi sự cám dỗ bạn thoả hiệp cuộc sống của mình với cuộc sống những người chung quanh.
Thay vì cám dỗ bạn ngoại tình, nó bắt đầu cám dỗ bạn bằng một việc tán tỉnh xem ra vô hại. Thay vì cám dỗ bạn biển thủ tiền bạc, nó bắt đầu cám dỗ bạn man khai thuế thu nhập. Thay vì cám dỗ bạn lợi dụng địa vị chức quyền, nó sẽ bắt đầu cám dỗ bạn bẻ cong luật lệ đôi chút.
Sau lầm lỗi ban đầu của bạn, nó sẽ trở lại ngay để thúc giục bạn sai phạm nhiều hơn. Một sự nghi ngờ dấy lên ở nơi trước đó chưa từng xảy ra, một sự thật bị che khuất hay một lời nói dối được rào trước đón sau. Có thể đó là một hành vi thiếu sót, một nhân đức không được bảo vệ, một lời xác nhận đúng đắn không được nói ra hay một điều lành không được làm. Tiệm tiến nhưng chắc chắn, bạn đang đi dần đến chỗ xấu xa. Một khi bắt đầu biện hộ, bào chữa hay giải thích thái độ của mình... bạn bắt đầu tách mình ra khỏi đời sống ân sủng. Đừng để ma quỷ nhử bạn nên xấu, dù chỉ một lúc. Hãy nhớ, ý chí tự do của bạn nằm giữa cám dỗ và tội lỗi. Hãy tập trung lòng trí vào Chúa Kitô.
Hãy để lòng trí con đầy ắp những ý tưởng tốt lành, bằng không, kẻ thù sẽ gieo rắc những điều xấu xa vào đó. Chúng không thể trống rỗng (Thánh Tôma More).
Chỉ ý chí tự do mới có khả năng làm điều lành hoặc điều dữ. Nhưng khi ý chí đón nhận thử thách của Satan và không chấp nhận những gì nó giới thiệu, thì đó không chỉ là không sai lỗi mà còn là một nhân đức (Thánh Piô Pietrelcina).
Linh hồn sở hữu tự do; vì thế, dù ma quỷ có thể đưa ra những đề nghị, nó vẫn không có quyền buộc con chống lại ý chí của mình (Thánh Cyril de Jérusalem).
Sau khi dùng nhiều công cụ, ác quỷ ranh mãnh vẫn không thành công ngăn chặn những lời cầu nguyện của người bền đỗ, nó ngừng một lúc; nhưng khi người đó cầu nguyện xong, nó trả thù. Hoặc là nó bừng bừng giận dữ và do đó, phá huỷ tình trạng thuận lợi có được bởi lời cầu nguyện trước đó; hoặc nó gợi lên một sự thôi thúc thú tính nào đó và vì thế, nó giễu cợt tâm trí người ta (Thánh Nilus Sinai).
Chán Nản
Thế mà chúng tôi nghe nói trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào (2 Tx 3, 11).
Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu ma quỷ không thể làm bạn nên xấu xa? Này đây, nó sẽ lý thú làm bạn chán nản. Chán nản là xáo trộn, mất trật tự. Dù mang nhiều hình thức và tên gọi khác nhau như lãnh đạm, uể oải, dửng dưng, biếng nhác, u uất hay phờ phạc... thì kết quả sau cùng của chán nản vẫn là không có sức sống và mất sự phấn chấn khi tìm kiếm chân lý. Trạng thái đờ đẫn này thường dẫn đến việc phạm tội ngang qua buồn chán. Buồn chán, một hành vi của ý chí, đến từ bên trong. Nó thành hình bởi sự thiếu vắng hành động bên trong, không phải bên ngoài. Như một viên thuốc, nó tạo nên ngưỡng kích thích ngày càng tăng. Chán nản, một cái gì thật hiểm nghèo cho người chiến sĩ, bởi nó giết chết đời sống cầu nguyện, nguồn sức mạnh của người lính chiến.
Walker Percy, một nhà viết tiểu thuyết công giáo của thế kỷ hai mươi, từng lưu ý: trước thời hiện đại, không ngôn ngữ nào có từ “chán nản”. Nó là phát minh của nhu cầu, là con đẻ của một cuộc tìm kiếm thời hậu hiện đại khi con người cất bước truy tầm một cuộc sống tưởng rằng ý nghĩa và hạnh phúc ngoài Thiên Chúa. Sự thật là, ngoài Người, không thể có một cuộc sống ý nghĩa và hạnh phúc. Đức Giêsu đang đổ đầy một cách vô cùng, Ngài là câu trả lời cho tất cả mọi cuộc tìm kiếm vô vọng về ý nghĩa và mục đích cuộc sống. Khi để mình sống trong buồn chán, bạn trao cho Satan một nền móng, trên đó nó sẽ xây dựng vương quốc sự dữ.
Mọi người sẵn sàng chạy theo điều mới lạ; còn Đức Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể thật cô quạnh, Ngài bị bỏ rơi (Thánh Gioan Maria Vianney).
Trong cuộc sống, buồn chán thường có đưa bạn đến chỗ phạm tội không? Châm ngôn “ở dưng là cội rễ mọi sự dữ” thật đúng, vì khi rảnh rỗi, ý chí bạn không định hướng và tập trung. Nếu bạn không định hướng ý chí, một ai đó sẽ làm điều ấy thay bạn. Vì buồn chán không phải là một trạng thái tự nhiên, nên gần như với bất cứ giá nào, thân xác bạn sẽ tìm cách tự giải thoát khỏi nó. Qua việc lạm dụng ma tuý, rượu bia, tình dục, thể thao, mua sắm, công việc, .v.v.. con người tiêu tốn không biết bao nhiêu thời giờ và tiền bạc khi tìm cách đổ đầy những lỗ hổng có khuôn mẫu Thiên Chúa bên trong nó với bất cứ điều gì và chuyện gì, ngoại trừ Người. Để có một sự quân bình vĩnh cửu, bạn hãy ngưng tìm kiếm những giải pháp tức thời đó. Đừng để buồn chán trở nên cộng sự viên cho sự dữ; hãy để nó trở thành chất xúc tác hướng bạn tới điều lành. Hãy để những thao thức cảm nhận được thúc giục bạn hướng đến việc tìm kiếm thánh ý Chúa Trời.
Hãy luôn luôn làm việc, để khi ma quỷ gọi, nó thấy con đang bận (Thánh Jérôme).
Lười biếng là lưỡi câu hoả ngục dùng để đánh bắt các linh hồn (Thánh Ignatiô Loyola).
Cạm bẫy chủ yếu ma quỷ đặt ra để bắt chộp người trẻ chính là sự biếng nhác. Đây là cội rễ mọi sự dữ (Thánh Gioan Bosco).
Bận Rộn
Còn cô Matta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!”. Chúa đáp: “Matta, Matta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10, 40-42).
Nhưng giả như Satan không thể làm bạn xấu xa hay buồn chán thì sao? Nó sẽ cố làm cho bạn bận rộn. Với tất cả những thiết bị hiện đại tiết kiệm thời gian có sẵn, có bao giờ bạn vẫn không hiểu tại sao xem ra bạn vẫn có quá ít thời giờ hoặc không đủ thời giờ? Thời dụng biểu dày đặc, họp hành nhiều hơn và thời gian càng hiếm hoi hơn. Và rất thường xuyên, chính Thiên Chúa lại bị loại khỏi lịch làm việc. Bận rộn là một cái gì thật hiểm nghèo cho bạn với tư cách một chiến sĩ thiêng liêng, bởi lẽ, nó làm cho bạn xao lãng điều quan trọng nhất, đó là Thiên Chúa và ý muốn của Người. Trong tĩnh lặng, bạn nhớ đến Người, chứ không phải trong động đạc.
 Bạn đã từng có kinh nghiệm khi làm một công việc lớn lao cho Chúa? Khi xong việc, có bao giờ bạn tự hỏi làm sao bạn lại có thể hoàn tất ngần ấy công việc trong một thời gian ngắn ngủi như thế? Tựa hồ câu chuyện bánh cá hoá nhiều, chính Thiên Chúa nhân lên gấp bội nỗ lực của bạn và xem ra Người nhân cả thời giờ khi bạn phục vụ Người. Ở trong thánh ý Người, mỗi hành vi của bạn là một lời cầu nguyện và cách nào đó, chính lời cầu nguyện lại nhân đôi thời giờ. Ngược lại, dường như thiếu cầu nguyện dẫn đến hụt thời giờ. Cảm tưởng phải vội vã, luôn đợi nước đến chân, bồn chồn lo lắng không ngừng... thường thấy ở một đời sống cầu nguyện yếu kém hoặc cầu nguyện không thường xuyên.
Nếu có quá nhiều việc phải làm... với sự trợ giúp của Chúa, con sẽ tìm ra thời giờ để làm tất cả (Thánh Phêrô Canisiô).
Lại nữa, một điều thật quan trọng đối với cám dỗ này, vì theo cái nhìn của Satan, làm cho ai bận rộn là cách dễ dàng nhất để cám dỗ những người lành thánh. Nhiều lúc chúng ta tưởng phải làm thật nhiều để có một kết quả thật tốt; nhưng một khi quá bận rộn, việc quy chiếu về Thiên Chúa bị đánh mất... Satan chộp cơ hội. Nếu thánh ý Thiên Chúa dành cho bạn bị đánh mất vì bận rộn, điều lành bạn làm được cũng đã ươn thối. Bận rộn không luôn luôn có nghĩa là động đạc cơ thể. Nếu Satan có thể giữ cho lòng trí bạn đầy ắp những tư tưởng, ý nghĩ và sự ồn ào gây chướng ngại, nó đã ngăn được bạn lắng nghe tiếng Chúa. Nếu linh hồn bạn cảm thấy bị quấy rầy vì không làm một điều gì đó, nếu bạn bồn chồn dù không bận rộn hoặc nếu bạn chỉ biết công việc mà không nhớ mình là ai thì Satan sẽ giúp bạn chọn phần ít hơn. Nếu Satan khiến bạn bỏ qua việc bác ái viện cớ tránh đề cao cá nhân hay coi trọng hiệu năng, thì điều bạn đã đạt được thực sự là gì?
Hãy hết sức cẩn thận với sức khoẻ của con. Ma quỷ dùng mọi mánh khoé để lừa phỉnh những người tốt lành. Nó xúi họ làm nhiều hơn khả năng... để không còn có thể làm gì nữa (Thánh Vincent Phaolô).
Đang khi bận rộn với những việc nhỏ, tôi đâu còn được yêu cầu để làm những việc lớn hơn (Thánh Phanxicô Salêsiô).
Chúng ta có thể không làm những việc lớn; chỉ những việc nhỏ, nhưng với một tình yêu không nhỏ (Chân Phước Têrêxa Calcutta).
Khoác Lác
Các người lại tự phụ vì những chuyện khoác lác của mình. Mọi thứ tự phụ như thế đều xấu (Gc 4, 16).
Satan không chỉ chuyên sử dụng một phương thức nào đó để cám dỗ hoặc đặt bẫy bạn, nó sử dụng những gì có thể có, áp dụng bất cứ phương sách nào hầu đạt mục đích. Nó linh động và nhẫn nại trong việc tiếp cận bạn, luôn luôn tập trung vào mục đích của mình, đó là tách linh hồn bạn ra khỏi ân sủng Thiên Chúa. Nếu việc làm cho bạn nên xấu xa, buồn chán hay bận rộn... xem ra không hiệu quả, nó sẽ ra sức làm bạn khoác lác, thậm chí có thể khoác lác về khả năng chống lại nó. Nó sẽ đặt đòn bẩy để kích sự tốt lành của bạn lên, biến nó thành kiêu ngạo, và rồi dẫn bạn từ ân sủng đến tội lỗi.
Vì tội của Satan là tội kiêu ngạo, nên nó biết cách tâng bốc. Thông minh và tỉnh táo như Satan, nó biết cách tốt nhất để đánh gục bạn với nọc độc kiêu căng. Nó không hùng hổ trực tiếp nhào đến, nhưng tiếp cận gián tiếp để bạn hầu như không thể nhận thức. Đánh vào cái tôi, nó làm bạn thần phục cái tôi tội lỗi của mình; đánh vào ngọn lửa tự cho mình là quan trọng, nó làm lệch sự chú tâm của bạn xa rời ý muốn Thiên Chúa. Satan tìm cách sử dụng những thế mạnh của bạn để chống lại bạn, thổi phồng bạn, thôi thúc bạn hãy tự mình làm tất cả. Từng bước một, nó kéo bạn xuống trên con đường tự cao tự đại.
Thiên Chúa, Đấng tác tạo Satan, khôn ngoan hơn nó vô ngần; Satan chỉ là một tạo vật. Người dùng yếu hèn của bạn [điều này rất nhiều] để thực hiện chương trình Người dành cho bạn, Người biết bạn dễ nuông chiều yếu đuối của mình (x. 2 Cr 12, 9). Chúa là Thiên Chúa, có thể dùng chính lầm lỗi yếu đuối của bạn để mang sự lành cho bạn cũng như vinh quang cho Người. Chính do sự yếu đuối, nhỏ bé của mình mà bạn đặt tất cả tín thác vào Chúa. Phần Người, Người sẽ che chở bạn khỏi những phỉnh phờ của tên xấu xa. Hãy tin cậy Chúa, đừng tin tưởng mình.
Ai tin bản thân mình, sẽ hư mất. Người tin tưởng Chúa, có thể làm mọi sự (Thánh Alphonsô Liguôri).
Kiêu ngạo là phủ nhận Thiên Chúa, là sáng kiến của ma quỷ (Thánh Gioan Climacus).
Thiên Chúa sẽ không cho phép ma quỷ lừa dối linh hồn nào vốn không cậy vào bất cứ điều gì nơi bản thân mình, linh hồn đó sẽ nên mạnh mẽ trong đức tin (Thánh Têrêxa Avila).
Cám dỗ của Satan là có thật, mạnh mẽ và hấp dẫn; nhưng ân sủng Thiên Chúa lại thật hơn, mạnh mẽ hơn và cũng hấp dẫn hơn. Đừng bao giờ coi nhẹ cám dỗ của Satan, cũng đừng bao giờ sử dụng cám dỗ của nó như một cớ để phạm tội. Cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu đem bạn ra khỏi bóng tối để đưa vào ánh sáng. Hãy tìm kiếm thánh ý Chúa Cha trong tất cả mọi sự, bạn sẽ không bao giờ rơi vào mặc cảm xấu xa, buồn chán, bận rộn, khoác lác hay bất cứ chiến lược nào khác mà Satan có thể tận dụng.
Ma quỷ đến và tìm cách cám dỗ mọi tôi tớ Chúa. Ai có đức tin mạnh, sẽ chống lại nó, nó sẽ chạy xa vì không tìm được lối vào. Vậy là nó sẽ đến với những ai không có đức tin, tìm một ngõ vào và đột nhập linh hồn họ. Bằng cách này, trong họ, nó sẽ làm bất cứ điều gì nó ưa thích và biến họ thành nô lệ (Trích trong The Shepherd of Hermas).
Nước, một khi không còn chảy, đọng lại ở những lỗ trũng, trở nên ao tù đầy dẫy rác rưởi thối tha. Cũng một cách ấy, thân xác quen ăn không ngồi rồi ngày này qua ngày khác cũng sẽ sản sinh và dẫn đến bao thèm muốn cùng những thú vui bất chính (Thánh Bênađô Clairvaux).
Giữa mọi nỗ lực, chúng ta tìm cách làm vui lòng Chúa, thế nhưng qua đó, ma quỷ đào ba cái hố. Trước hết, nó tìm cách cản trở quyết tâm tốt lành của chúng ta; thứ đến, nó cố làm cho công việc của chúng ta không phù hợp với thánh ý Người. Nếu ý định không thành, nó âm thầm đột nhập linh hồn và bắt đầu tâng bốc (Thánh Gioan Climacus).
Trước hết, ma quỷ tìm cách cám dỗ các linh hồn thèm muốn giàu sang, Satan quen làm thế trong hầu hết các trường hợp, các linh hồn dễ dàng tìm kiếm những hư danh của thế gian này... rồi đi đến chỗ tự cao tự đại. Như thế, bước thứ nhất là giàu có; bước thứ hai, danh vọng; bước thứ ba, kiêu ngạo. Từ ba bước này, con người hướng đến bao tính hư nết xấu đồi bại khác (Thánh Ignatiô Loyola).
Hãy cầu xin Chúa ban sức mạnh để con chiến đấu chống lại kiêu ngạo vốn là kẻ thù số một của con, cũng là cội rễ mọi sự dữ, cũng là thất bại của tất cả điều lành (Thánh Vincent Phaolô).
Sẽ thật vô ích khi cắt những cành cây sự dữ mà không đụng đến cội rễ của nó, những chồi mới sẽ tiếp tục sản sinh (Thánh Alphonsô Liguôri).
Đây là tội nguyên tổ: con người coi mình là ánh sáng riêng cho mình và quay lưng lại với nguồn sáng vốn làm cho nó sáng (Thánh Augustinô). 
 
Còn tiếp nhiều kỳ
 
LTS. Lm. Minh Anh, TGP Huế có một tài sản rất lớn và quí báu, đồng thời sẵn sàng trao tặng cho bất cứ ai muốn nhận, đó là 13 bản dịch của những tác phẩm uy tín và giá trị. Quí vị có thể chọn lựa tên tác phẩm và xin nhận qua email bằng file, hoặc tham khảo tại đây (tải về máy dễ dàng):
http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=module2&id=69
 
CUỘC CHIẾN THIÊNG LIÊNG THEO THÁNH KINH, TRONG HỘI THÁNH & NƠI CÁC THÁNH - ONWARD CATHOLIC SOLDIER
“Đừng sợ những mưu chước, những công kích của ma quỷ, kẻ có thể đến cướp phá và chiếm cứ thành phố linh hồn con. Không, đừng sợ, nhưng hãy như những chiến sĩ đang dàn quân trên mặt trận, võ trang bằng thanh kiếm đức ái của Thiên Chúa. Thanh kiếm này là ngọn roi quất vào chúng” (Thánh Catarina Siêna). ...File kèm Attach file
 
Tìm Kiếm và Giữ Lấy Bình An - Searching for and Maintaining Peace
Cần biết rằng, con đường dẫn đến Thiên Chúa, dẫn đến sự trọn lành mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi chúng ta thì ngắn hơn, hiệu năng hơn và thật hiển nhiên, dễ dàng hơn khi chúng ta học biết dần dần cách thức giữ lấy bình an thẳm sâu trong tâm hồn ở bất cứ hoàn cảnh nào. Vì lẽ, lúc bấy giờ, tâm hồn đã phó mặc cho sự dẫn dắt của Thánh Thần, và với ân sủng của Người, Thiên Chúa có thể hành động nhiều hơn những gì mà tâm hồn có thể thực hiện bằng sức riêng của mình. ...File kèm Attach file
 
TỰ DO NỘI TÂM - La Liberté intérieure (Jacques Philippe)
Cuốn sách này nói đến chủ đề nền tảng của đời sống Kitô giáo: tự do nội tâm. Mục đích của nó thật rõ ràng. Mọi Kitô hữu cần khám phá ra rằng, ngay trong những hoàn cảnh bên ngoài bất ưng nhất, bên trong chúng ta vẫn có một khoảng không tự do mà không ai có thể lấy đi, bởi Thiên Chúa là nguồn mạch và là bảo chứng của tự do đó. Không có khám phá này, chúng ta sẽ luôn luôn bị giới hạn cách nào đó và sẽ không bao giờ nếm hưởng được hạnh phúc đích thực. Nhưng nếu chúng ta học cách để cho khoảng không tự do nội tâm này mở ra, thì dù cho bao điều làm chúng ta đau khổ, vẫn không gì thực sự có thể đàn áp hay nghiền nát chúng ta. ...File kèm Attach file
 
Cẩm Nang Hạnh Phúc Gia Đình Kitô của D. Wahrheit
Cẩm Nang Hạnh Phúc Gia Đình Kitô của D. Wahrheit được hiệu đính từ một tập sách rất khó đọc dạng ronéo. Sau một thời gian dài tìm tác giả cũng như người dịch, tôi được Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài, Giám Đốc Đài Chân Lý  Á Châu, cho biết: các sách có tên tác giả D. Wahrheit là những tác phẩm của Đài Chân Lý Á Châu đã phát thanh, được thính giả ghi lại trong thời gian khó khăn khi chưa có internet (D: Đài; Wahrheit: Chân Lý); và nay, được phép ngài cho phổ biến, tôi chân thành giới thiệu tập sách bổ ích Cẩm Nang Hạnh Phúc Gia Đình Kitô này cùng các bạn trẻ, cách riêng những bạn trẻ sắp bước vào đời sống hôn nhân. Lễ Thánh Mônica, 27.8.2009. Lm. Minh Anh (Gp. Huế) ...File kèm Attach file
 
Thầy Dạy Khát Khao - Le Maître du désir
Con người muốn sống. Con người được tạo dựng để sống. Không chỉ tự nhiên tìm cách bảo tồn sự sống, nhưng chúng ta còn muốn phát triển nó, làm cho cuộc sống của mình hạnh phúc hơn, tươi đẹp hơn, thanh cao hơn, mạnh mẽ hơn; tắt một lời, sống động hơn. “Vì chưng, gánh nặng nặng nề nhất là tồn tại mà không sống” (Victor Hugo). Sống có ý nghĩa gì nếu không có niềm vui sống? ...File kèm Attach file
 
HOA TRÁI THINH LẶNG - Thoughts in Solitude
Những lời ghi chép trong tập này được viết vào những năm 1953 và 1954 vào thời điểm mà tác giả, nhờ ân sủng của Thiên Chúa và nhờ sự rộng lượng của các Bề Trên, có thể tận dụng những cơ hội đặc biệt dành cho việc tĩnh tâm và suy niệm; từ đó, mới có đề tựa tập sách như trên. Điều này không muốn nói rằng, những lời ghi chép đó mang tính chủ quan hay tự thuật. Chúng không hề được nhắm đến như một tường trình về những cuộc phiêu lưu tinh thần. Đối với tác giả, không có cuộc phiêu lưu nào để viết, và nếu có, nó cũng sẽ không phó mặc cho việc in ấn trong bất kỳ trường hợp nào. Đây chỉ là những suy tư về đời sống chiêm niệm, những hiểu biết bằng trực giác mà dường như có một tầm quan trọng cơ bản vào một lúc nào đó trong quá khứ. ...File kèm Attach file
 
Một Quan Điểm Công Giáo về Tác Phẩm Sống Theo Đúng Mục Đích - “A Catholic Perspective on The Purpose Driven Life”
Là một linh mục Công giáo Rôma, từ hơn 50 năm nay, tôi vẫn thường lướt qua những phim ảnh và những cuốn sách được yêu chuộng như là nguồn tài liệu khả dĩ có thể sử dụng cho việc giảng dạy và viết lách. Sự hiếu kỳ đó đã dẫn tôi đến với quyển sách của Mục sư Rick Warren.  ...File kèm Attach file
 
Sống Theo Đúng Mục Đích - The Purpose-Driven Life
Ngày nay, ta biết quá nhiều thứ, nhưng lại ít biết về chính mìình, theo đuổi nhiều thứ nhưng không biết cái gì là chính. Ta quay cuồng và bị lôi kéo, bị xô đẩy giữa biết bao khuynh hướng, trào lưu mà không biết đi về đâu. Biết mình, biết mục đích đời mình và sống đúng mục đích, điều quan trọng bậc nhất trong đời sống này sẽ giúp đời sống ta thay đổi, có ý nghĩa và triển nở đến vô tận. (TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, giới thiệu) ...File kèm Attach file
 
BÀI CA CỦA BÌNH MINH - THE SONG OF THE DAWN
Người ta có thể ngạc nhiên khi những ý tưởng sâu sắc lại được tìm thấy trong những tác phẩm thi ca của các nhà thơ hơn là của các triết gia; bởi lẽ, nhà thơ vận dụng hết mọi nỗi niềm và khai thác tối đa khả năng tưởng tượng. Như đá lửa, trong chúng ta, có những hạt giống của ánh sáng. Qua lý trí, triết gia khơi dậy chúng, đang khi nhà thơ làm cho chúng chiếu toả rạng ngời hơn nhờ đặc ân tưởng tượng. Descartes, Cogitationes Privatae ...File kèm Attach file
 
ĐI TRÊN NƯỚC - WALKING ON WATER
Cầu nguyện, yêu thương, đời sống tinh thần, đời sống đạo đức sắp giải thoát bạn khỏi những ảo giác. Một khi đời sống đức tin triển nở, thật tuyệt vời, tuyệt vời! Nhưng khi nó trệch hướng, thì đó là bệnh hoạn, một dịch tể phải tránh. Khi ảo giác rơi rụng, con tim không còn bị tắc nghẽn, tình yêu sẽ nở hoa. Đó cũng là lúc hạnh phúc chợt đến và bắt đầu có sự đổi thay. Và rồi, chỉ khi đó, bạn mới biết Thiên Chúa là ai...  ...File kèm Attach file
 
TAKING FLIGHT - BAY LÊN ĐI!
Đã một thời, Tony de Mello, một linh mục dòng Tên dạy đàng thiêng liêng không ngừng đánh động tâm hồn bao người khắp năm châu; bởi lẽ, ngài quá yêu đời, yêu cuộc sống - một cuộc sống thực tế, sôi nổi và tràn đầy niềm vui. Những chuyện kể đầy mê hoặc, đầy nhiệt huyết, đậm nét hài hước và những hiểu biết sâu sắc của ngài về bí quyết hạnh phúc, về việc khám phá bản ngã đích thực của mỗi người - tất cả đã tạo nên một tác động đầy phấn khích cho bất cứ ai đã từng nghe ngài. Ngài đến cho những tâm hồn được giải thoát, cho người vô cảm biết yêu thương, đem ý nghĩa cho tất cả những gì làm nên một nẻo đường thiêng liêng trên đó bao người đang tiến bước. ...File kèm Attach file
 
SADHANA - MỘT NẺO ĐƯỜNG DẪN TỚI THIÊN CHÚA - Linh Thao Kitô Giáo Theo Lối Đông Phương
 Nguyên bản tiếng Anh chúng ta đang có là Sadhana toàn tập, không rút gọn, như tác giả đã lưu ý (complete and unabridged). Vì thế, bạn sẽ có một bản dịch đầy đủ. Ước mong sao, chúng ta cùng khám phá những chiều kích mới mẻ của kho tàng hiểu biết và tinh thần bên trong chính mình, qua việc ý thức đem toàn thể con người - thân xác, linh hồn, con tim, lý trí, ký ức và tưởng tượng - đi vào cầu nguyện, đi vào chiêm ngắm Đấng đang ngự ở đó. ...File kèm Attach file
 
HUẾ CỔ VẾT TÍCH ĐẠO VÀ ĐỜI
“Vestiges Religieux et Profanes du Vieux Hué” của Cố Ngôn (J. B. Roux) được chuyển dịch như một đóng góp nhỏ nhân dịp Kỷ Niệm 15 Năm Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tôn phong 117 Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam (1988-2003) với tựa đề “Vết Tích Chứng Nhân Đức Tin Của Huế Cổ”. Nay, nhân Kỷ Niệm 20 Năm Tôn Phong Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (1988-2008), một lần nữa tập sách được tái bản với đề tựa mới, “Vết Máu Trên Huế Cổ”.
 
 
VỀ MỤC LỤC
 
   
  

TÂN PHÚC ÂM HÓA BẢN THÂN TU SĨ VÀ CỘNG ĐOÀN
(DÒNG THÁNH TÂM HUẾ THƯỜNG HUẤN - Ngày 16-24/7/2014)
 

Phần Một

TÂN PHÚC ÂM HÓA BẢN THÂN TU SĨ

 

B. TIẾN TRÌNH ƠN GỌI NĂM BƯỚC

2. BƯỚC THỨ HAI: LỜI ĐÁP TRẢ CỦA MỖI NGƯỜI

 
Chúng ta đã quảng đại đáp lại lời mời gọi của Chúa và mong muốn được quảng đại cho đến cùng. Đây là một bước rất quan trọng, bởi vì ơn gọi “không phải là một chọn lựa luân lý hay một lý tưởng cao quý, nhưng là gặp gỡ với chính Chúa Giêsu, một cuộc gặp gỡ trao ban cho cuộc sống một chân trời mới, và qua đó là một hướng đi có tính cách quyết định[1]. Chúa luôn đổi mới lời mời gọi của Ngài qua các biến cố cuộc sống thì chúng ta cũng phải luôn đổi mới lời đáp trả của chúng ta qua các biến cố cuộc sống ấy, dù vui hay buồn, thành công hay thất bại, thánh thiện hay tội lỗi.
 
Và trong sự đáp trả theo Chúa này phải để ý hai yếu tố ThíchHợp. THÍCH là yếu tố chủ quan và tình cảm có thể theo phong trào, nhất thời và hay thay đổi; HỢP là yếu tố khách quan kiên định đòi hỏi khả năng và phẩm chất để được bền vững cho đến cùng. Tự mình đánh giá mình, chúng ta có thế bị ảo tưởng và sai lầm, nên cần có người đào tạo kinh nghiệm hướng dẫn để khỏi chọn lựa sai kế hoạch của Chúa. Thích làm tu sĩ linh mục mà không hợp là không được, nhất là khi gặp phải trở ngại Giáo luật hay gương xấu nặng. Trái lại, dù được mọi người đánh giá là hợp mà đương sự không thích thì cũng chịu thua.
 
            Như thế, để thẩm định lời đáp trả ơn gọi cần có sự hợp tác tích cực giữa đôi bên, các nhà đào tạo và ứng sinh, cùng với ơn Chúa. Cầu xin Chúa Thánh Thần dẫn dắt cả đôi bên đi đến một điểm chung là ơn gọi tu sĩ linh mục, trở nên người của Thiên Chúa và người cho con người, vì không những ứng sinh mà nhà đào tạo cũng có thể gặp phải sai lầm ngoài ý muốn. Xin nhắc lại rằng trách nhiệm đào tạo linh mục là trách nhiệm của mọi thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, đặc biệt là các cha xứ: “Toàn thể cộng đồng kitô giáo có bổn phận phải cổ động các ơn gọi để đáp ứng đủ những nhu cầu thừa tác vụ thánh trong toàn thể Giáo Hội. Bổn phận này bó buộc cách riêng các gia đình, các nhà đào tạo, đặc biệt là các giáo sĩ, nhất là các cha sở... trong việc chuẩn bị thích đáng cho những người nam đứng tuổi cảm thấy mình được gọi vào thừa tác vụ thánh.[2]
 
Người có trách nhiệm trước nhất và cao nhất trong việc tuyển chọn và đào tạo tu sĩ linh mục là Bề Trên Dòng. Nhưng ngài thường ủy nhiệm cho một số nhà đào tạo đã được chuẩn bị kỹ lưỡng cộng tác với Ngài để đồng hành với các ứng sinh, tiệm tiến thẩm tra và giúp ứng sinh biện phân ý Chúa và thực thi ý Chúa (qua câu chuyện đời của anh), bảo đảm cho ứng sinh là anh được Thiên Chúa kêu gọi, và mời gọi anh tham gia vào việc tự đào tạo chính anh. Việc Bề Trên gọi ứng sinh lên khấn và chịu chức xác nhận ơn gọi đích thực của Chúa đối với anh.
 
Cuộc sống đức tin, nhất là đời sống ơn gọi, luôn là lối đi ngược dòng với xu hướng thời đại của nền văn minh sự chết [tục hóa, hưởng thụ vật chất và khoái lạc]. Do đó, cả ứng sinh và các nhà đào tạo luôn quan tâm đến các mối liên hệ xã hội và đời sống độc thân thanh khiết của các ứng sinh trước khi nhận vào; cân nhắc thái độ của ứng sinh đối với giới tính và khả năng sống độc thân thánh hiến[3]; đồng thời phải xem ứng sinh có ngăn trở Giáo luật nào không[4] và kiên trì sử dụng mọi phương thế tự nhiên và siêu nhiên để gìn giữ và tự bảo vệ lấy mình, trong mọi mối tương quan để được xứng hợp theo đuổi lý tưởng ơn gọi cho đến cùng. ĐTC Phanxicô nhắn nhủ: “Các con đừng sợ đi ngược dòng đời, khi mà những giá trị được bày ra cho chúng ta là những giá trị xấu, muốn cướp mất hy vọng của chúng ta, những giá trị được ví như những bữa ăn, khi bữa ăn không lành mạnh, nó sẽ làm hại chúng ta; những giá trị này làm hại chúng ta. Nhưng chúng ta phải đi ngược dòng đời! Và các bạn trẻ, các con phải là người đi tiên phong:“hãy đi ngược dòng đời và hãy lấy làm hãnh diện khi đi ngược dòng đời như vậy”[5].
 
Nhưng người trẻ ngày nay trưởng thành sớm về mặt sinh học,[6] nên chuyện tình cảm yêu đương không thể tránh. Họ cần được hiểu và sống tốt nguyên vẹn cuộc đời mình trước khi đi vào lựa chọn đời sống hôn nhân hay đời sống linh mục và tu sĩ đúng như Chúa muốn và Giáo Hội dạy. Đồng thời cũng phải  thẳng thắn nhìn nhận những cản trở và chiến đấu không thể vượt qua được để lượng sức mình mà đổi hướng sớm, không cần đợi đến lúc bị phát hiện hay bị tố cáo, vì con đường linh mục hay tu sĩ không phù hợp cho họ.[7] ĐTC Phanxicô khi còn là Hồng Y tiết lộ bí quyết sống độc thân một cách hạnh phúc của ngài: “Lúc tôi còn là một chủng sinh, tôi bị lóa mắt bởi một cô gái tại đám cưới của một ông chú. Tôi bàng hoàng trước vẻ đẹp và trí thông minh của nàng… quả đúng thế, tôi bàng hoàng một thời gian khá lâu. Tôi luôn nghĩ đến nàng không thôi. Sau đám cưới ấy, tôi trở lại chủng viện, nhưng đến cả một tuần lễ sau, tôi vẫn không cầu nguyện được, vì mỗi lần cố gắng cầu nguyện thì cô gái lại xuất hiện trong đầu tôi. Tôi phải suy nghĩ lại xem tôi đang làm gì đây. Tôi vẫn còn tự do vì mới chỉ là chủng sinh thôi, nghĩa là tôi có thể trở về gia đình, thế là xong. Nhưng tôi phải suy nghĩ về chọn lựa của mình một lần nữa. Và một lần nữa, tôi đã chọn, hay đúng hơn, tôi để mình được chọn bởi con đường tu trì. Hiện tượng này mà không xẩy ra mới bị coi là chuyện bất bình thường. Và khi nó xẩy ra, người ta bắt buộc phải rà lại hướng đi của mình một lần nữa. Đây là vấn đề ta phải chọn lựa lại hoặc cho rằng ‘điều tôi đang cảm xúc thật là đẹp. Tôi sợ sau này mình sẽ không trung thành với ơn gọi, do đó, nên rời chủng viện là hơn’. Nếu việc này xẩy ra cho một chủng sinh, tôi thường giúp họ ra đi bằng an để trở thành một Kitô hữu tốt, chứ không thành một linh mục xấu.
 
Cũng xin nhắc lại rằng đối với người Việt Nam chúng ta, lãnh vực tính dục rất tế nhị, nếu các nhà đào tạo không nhẫn nại lắng nghe và khả tín hầu ứng sinh dễ dàng bộc lộ sự thật, đồng thời để mình dễ bị “sốc” và có ngay biện pháp thì khiến ứng sinh lo sợ và co mình lại hoặc nói dối, kẻo một lần đã nói dối thì họ sẽ có khuynh hướng nói dối mãi, dù biết rằng sẽ phải trả giá rất đắt khi lời nói dối bị vạch trần.[8] Vì thế, thật hữu ích việc ứng sinh được biết rõ và tự mình có trách nhiệm đối mặt với những gì đã xảy ra cho mình và giải quyết chúng, với sự giúp đỡ của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng. Có thế thì sự chọn lựa đời sống linh mục hay tu sĩ có hướng dứt khoát sớm, để tiến trình đào tạo và tự đào tạo được thanh thản và hiệu quả. Nếu chỉ là chuyện tình cảm và tình yêu thì nên dần dần chấm dứt đi, một khi đã chọn lựa đời tu. Nếu lỡ có chi hơn thế mà không đến đỗi mắc ngăn trở Giáo Luật thì càng phải cương quyết chấm dứt, triệt để biến đổi lật sang trang đời mới, không nuôi dưỡng đèo bồng du dưa nữa. Kể cả hai bên đều cùng đi tu thì phải biến đổi và thăng hoa nó lên, để tránh những hệ lụy “người xưa cảnh cũ” sau này. Tốt nhất là không nên tìm cơ hội gặp gỡ riêng tư với người tình cũ. Nhớ tiến trình con cóc tiến hóa “đứt đuôi nòng nọc.”[9]
 
Và dù có nói là quyết tâm lật sang trang đời mới thì cũng cần có đủ thời gian để ứng sinh trắc nghiệm chính mình là mình có thể kiên trì làm được điều đó; đồng thời người có trách nhiệm có đủ dữ kiện để an tâm chứng nhận rằng ứng sinh đã thực sự đổi mới và kiên trì tiến bước được trên đường ơn gọi. Giáo Hội đã quá đau khổ, bị thiệt hại vì chuyện này và đang nỗ lực nghiêm khắc chấn chỉnh ngay từ bước tuyển lựa và đào tạo đầu tiên.[10] Đã là con người thì ai cũng có những nhu cầu và ham muốn tự nhiên cần phải chiến đấu, nhưng tội nghiệp cho những ai “bén mùi chùi chẳng sạch” sẽ phải chiến đấu nặng nề hơn. Tuy nhiên, nếu cứ phải chiến đấu quá nặng nề và quá dai dẳng thì không nên tiếp tục, vì sẽ khổ cho mình và cho nhiều người khác sau này, thiệt hại cho công cuộc dưỡng giáo và truyền giáo của Giáo Hội.[11] Chuyện gì làm riêng tư một mình thì có Chúa biết. Nhưng chuyện gì làm giữa hai người thì rồi ra người khác cũng sẽ biết, không biết được hôm nay thì mai kia cũng sẽ biết. Có thể họ đã biết rồi mà vì nhân đạo, họ không nói hoặc chưa nói đó thôi. Ứng sinh nên nhớ rằng những người thương mình và bảo vệ Giáo Hội sẽ không chấp nhận thái độ nước đôi đó đâu, họ sẽ can thiệp để ngăn chặn. Những người ghét mình hay gia đình mình sớm muộn gì cũng sẽ tố cáo.[12] Và ngay chính do người con gái ấy mà sự việc sẽ bị bại lộ: Nàng có thể chấp nhận mất người yêu cho Chúa và Giáo Hội, chứ không chịu mất trong tay một hay nhiều cô gái khác; và rồi chính nàng sẽ làm ra chuyện, vì muốn dành lại cho mình hoặc “không ăn được thì đạp đổ!” Nếu cả đôi bên đều cùng đi tu thì tới một lúc nào đó lương tâm thức tỉnh, bên nữ sẽ bộc bạch hết với người có trách nhiệm và bạn thân thiết, dù có dặn nhau “sống để dạ thác mang theo,” hoặc biểu lộ ra qua thái độ muốn chiếm hữu – ghen tuông – độc quyền, khiến người khác thắc mắc tìm hiểu mà bị bại lộ. Để có được mối tương quan tốt, hài hòa, quân bình và trưởng thành với cả hai phái, nhất là với phái nữ, những người có kinh nghiệm đưa ra năm điểm thiết yếu phải giữ trong các cuộc gặp gỡ: Nơi chốn – Thời gian và thời lượng – Khoảng cách thể lý và tâm lý – Sự có mặt của những người thứ ba – Ý thức sự hiện diện khuất ẩn nhưng rất thực của Chúa.
 
Nếu thiếu tính tự giác tự nguyện đổi hướng về phía ứng sinh, thì ứng sinh nào bị phát hiện là không thích hợp, và có những ngăn trở theo Giáo luật hoặc thiếu tinh thần phục thiện và cố tình dối trá, thì nên mạnh dạn và nhanh chóng đưa đương sự ra khỏi con đường theo đuổi ơn gọi. Cả hai phía, các nhà đào tạo lẫn ứng sinh, không được phép nuôi dưỡng những hy vọng hảo huyền và những ảo tưởng nguy hiểm, dù biết rằng mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai.
Ngoài ra, các ứng sinh cần được biết rõ những khoản Giáo Luật liên quan. Không nên để quá muộn khiến tiến thối lưỡng nan, thiệt hại cho Giáo Hội lẫn cho đương sự.
  • GL 1024 và 1033: Chỉ có người nam nào đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức rồi mới được lãnh nhận chức thánh cách thành sự và hợp pháp.
  • GL 1025: Phải trải qua một thời gian thử thách, hội đủ những đức tính thích hợp, không bị điều bất hợp luật và ngăn trở nào, đủ các giấy tờ cần thiết, và phải được điều tra kỹ lưỡng (x. GL 1051)
  • GL 1026: Đương sự phải được tự do hoàn toàn, tuyệt đối không được cưỡng bách bằng bất cứ cách nào và vì bất cứ lý do gì, cũng không được ngăn cản người đủ khả năng xứng hợp theo Giáo luật.
  • GL 1029: Chỉ nên cho tiến chức những ứng sinh có đức tin tinh tuyền, ý hướng ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, đức hạnh vẹn toàn, nhân đức vững vàng, các đức tính về thể lý và tâm lý phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận.
  • GL 1036-1037: Ứng viên phải đệ trình một bản tuyên bố do chính tay mình viết và ký tên xác nhận mình tự nguyện và tự do xin được chịu chức và sẽ vĩnh viễn dấn thân cho thừa tác vụ của Giáo Hội, đã công khai đảm nhận nghĩa vụ sống độc thân trước Thiên Chúa và Giáo Hội.
  • GL 1041: Những bất hợp luật không được chịu chức:
  • điên khùng/bệnh tâm thần, không đủ năng lực chu toàn thừa tác vụ;
  • bội giáo, lạc giáo hay ly giáo;
  • mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự;
  • tội sát nhân, phá thai có hiệu quả, hay tích cực cộng tác vào;
  • chủ tâm hủy hoại thân thể mình hay kẻ khác, đã mưu toan tự vẫn;
  • đã thực hiện một hành vi thuộc bí tích truyền chức [vd. ngồi vào tòa giải tội nghe xưng tội…].
 
  • GL 1043: Buộc tín hữu phải trình báo với Bản quyền về người có những ngăn trở để nhận lãnh chức thánh.
  • GL 1045: Dù không biết là có những điều bất hợp luật và những ngăn trở thì vẫn bị mắc những điều ấy.
  • GL 1051: Phải điều tra theo các phương thế hữu ích tùy hoàn cảnh mỗi thời và mỗi nơi.
           
Ngoài ra cũng phải xét đến một vấn đề rất quan trọng là vấn đề đồng tính luyến ái (sẽ được nói rõ vào một dịp khác).
 
Ứng sinh cũng cần có một cam kết khởi đầu (bằng viết tay) về ý ngay lành và tính trung thực của việc theo đuổi ơn gọi, liên quan đến bối cảnh gia đình “xét như chủng viện đầu tiên,”[13] những điều kiện bên ngoài, những điều kiện tự nhiên và những điều kiện thiêng liêng. Ứng sinh cũng được yêu cầu trải qua một cuộc kiểm tra sức khỏe tổng quát và trắc nghiệm tâm lý; lãnh vực đời sống tình cảm/tính dục cũng cần được khảo sát và chữa lành hầu đạt được sự ổn định cần thiết cho đời sống linh mục mai ngày; những gánh nặng nội tâm cần được tháo gỡ và giải quyết nhờ sự trợ giúp của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng.[14]
 
  • GL 239,2: Mỗi chủng viện phải có ít nhất một vị linh hướng và những tư tế khác được Giám Mục chỉ định vào nhiệm vụ giải tội/linh hướng. Xuân Bích có ưu điểm trong vấn đề này.
  • GL 240,2: Không bao giờ được hỏi ý kiến của vị linh hướng hay cha giải tội trong việc cho chủng sinh tiến chức hoặc sa thải.
  • GL 246, 4: Ứng sinh phải thường xuyên lãnh nhận bí tích sám hối và tự do chọn lựa cho mình một vị linh hướng để có thể tin tưởng bày tỏ lương tâm. Việc linh hướng thuộc bí mật tòa trong như ấn tòa giải tội, trong mối tương quan khép kín tay ba (Chúa Thánh Thần, ứng sinh và vị linh hướng)
 
Điều mà vị linh hướng khám phá về người thụ hướng ở toà trong sẽ không được tiết lộ ra ở toà ngoài. Điều này không những để bảo vệ người thụ hướng, mà còn cống hiến cho anh sự tín nhiệm và tin tưởng rằng điều gì anh đã bộc lộ ở tòa trong vẫn được giữ bí mật. Chính niềm tín nhiệm và bảo đảm này mang lại sự chữa lành tận gốc. Ngay trong tai họa lạm dụng tình dục trẻ em khiến lập trường Giáo Hội trở nên cứng rắn hơn và yêu cầu tích cực hợp tác với thẩm quyền dân sự thì ấn tòa giải tội vẫn phải được tuyệt đối tuân giữ, cha giải tội không được tố cáo vị linh mục xưng thú phạm tội ấu dâm.[15]
Tóm lại, việc chuẩn bị các ứng sinh thích hợp là nhiệm vụ hàng đầu của Bề Trên và những người Ngài tin tưởng ủy thác cho công cuộc tối quan trọng này. Sự chuẩn bị nhắm đến việc tiếp nhận các ứng sinh, qua việc phân định, nhận xét, đánh giá, tuyển chọn và khai tâm họ đi vào sự cam kết khởi đầu tiến trình tự biến đổi và cam kết với sứ vụ.[16] Việc đào tạo ở Dòng tùy thuộc phẩm chất của các ứng sinh đã được nhận vào. Phẩm chất của đầu vào quyết định phẩm chất của đầu ra: thời gian bảy, tám năm xem vậy mà ngắn lắm anh em ơi!
 
Nhưng cái gì có thể xảy ra khi chúng ta khám phá ra rằng chúng ta không thích hợp? Thưa hoặc là phải rời Nhà Dòng, hoặc là phải thích nghi, uốn nắn chính bản thân và nỗ lực hội nhập. Sự việc ấy đôi khi gây ra cảm giác khó chịu và cũng gây nên những khó khăn, vì không phải lúc nào cũng có thể nhận ra ngay tác động của Chúa Thánh Thần. Về lòng chân thật trong ơn gọi, tôi xin kể hầu anh em câu chuyện “Nhà vua chọn người kế vị”: Một vị vua kia thật hiền, hết lòng yêu thương lo cho dân cho nước, nhưng chẳng may Chúa không cho sinh con nối dòng. Vua lên kế hoạch chọn người kế vị trong hàng con cháu của hoàng thân quốc thích. Vua giao cho mỗi người một hạt giống, chủng loại khác nhau, để chăm bón thành cây kiểng, hẹn ba năm sau mở cuộc thi do cả triều đình chấm, dưới sự chủ tọa của chính vua. Đến hẹn, các công tử của hoàng thân quốc thích đua nhau mang thành quả của mình đến dự thi. Có nhiều chậu kiểng tuyệt đẹp và quí giá, ai cũng trầm trồ khen ngợi, được xếp hạng tiến dẫn trước, và các chủ nhân hớn hở nắm chắc phần thắng. Cuối rốt là một công tử trẻ tuổi bê một chậu đất không cây dâng lên, khóc tức tưỡi. Vua đích thân thẩm vấn. Cậu nghẹn ngào thưa: “Con đã làm hết mọi cách chăm bón hằng ngày, che mưa che nắng, liệu đủ nước đủ phân, khí trời âm dương… nhưng hạt giống của con vẫn không mọc, con không hiểu tại sao. Con thành thật xin lỗi vua, vì đã làm vua thất vọng, con xin nhận thất bại của con.” Vua ôm chầm lấy chàng trai và tuyên bố đã tìm được người kế vị. Vua giải thích: “Tất cả mọi hạt giống vua giao đều đã luộc chín hết rồi, không thể nào mọc thành cây được. Chỉ công tử này là thật thà, ngay chính và trung thành, xứng đáng để ta truyền ngôi trị nước, chăm lo cho muôn dân. Các công tử khác tuy đã thay hạt giống thật vua giao, nhưng cũng hết lòng chăm bón, ta không bắt tội, triều đình sẽ tuỳ theo tài năng đức độ của mỗi người mà cắt đặt. Mỗi người chúng ta tự nghĩ và tự trả lời trong thinh lặng về ý ngay lành và lòng chân thật của mình khi theo đuổi ơn gọi tu sĩ linh mục Dòng Thánh Tâm Huế.
 
ĐTC Biển Đức XVI nói với các chủng sinh ngày 20/8/2011: “Được khích lệ bởi những người đào tạo các con, các con hãy mở tâm hồn cho ánh sáng của Chúa để xem liệu con đường này, một con đường đòi hỏi lòng can đảm và tính xác thực, có phải là con đường của các con không, và chỉ tiến tới thiên chức linh mục nếu các con chắc chắn xác tín rằng Thiên Chúa kêu gọi các con trở thành các thừa tác viên của Ngài và hoàn toàn quyết định thực thi thừa tác vụ này trong sự vâng phục những quy định của Giáo Hội.” Và xin mời anh em lắng nghe cùng hội nhập vào bài hát “Tình Chúa Chọn Con”.
 
VỀ MỤC LỤC
 
 
  Text Box: NHỮNG GIỌT MỒ HÔI
  
 

Câu Chuyên Thầy Lang
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Tương truyền rằng Ðường Minh Hoàng rất say mê Dương Quý Phi vì sắc đẹp“hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” của nàng. Ðặc biệt hơn cả là vì nàng tỏa ra một hương thơm qua những giọt mồ hôi từ phần thân mình kín đáo.
Theo các cung nữ, hương thơm này thường là do người đẹp thưởng thức những trái lệ chi trồng ở đất Việt, mà Ðầu phu Mai Thúc Loan phải ngày đêm ngàn dậm cùng đoàn tùy tùng mang sang cống hiến.
Ðó là huyền thoại bên nước Tầu khi xưa.  
Bên Việt Nam ta, cũng có một ái phi triều Nguyễn với những hạt mồ hôi thơm nức. Một thi hữu kể cho hay dòng họ Trần tại làng Tây Mỗ tỉnh Hà Ðông có một thiếu nữ được tiến vô cung làm ái phi. Vị cung phi này được quân vương rất sủng ái vì tính tình hiền hậu, đoan trang và nhất là mồ hôi bà có mùi hấp dẫn. Do đó dân chúng địa phương có vần thơ ca tụng rằng: 
“Họ Trần sinh một Ðức Bà,
Mồ hôi thơm ngát, trăm hoa miệng cười”.
 
Dân gian ta thường nói:
Quyên quyên ăn trái nhãn lồng,
Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi” 
Bên Tây cũng có câu chuyện tương tự.
Chuyện Ðại Tướng Napoleon Bonaparte viết cho người yêu Josephine rằng:”Mình ơi, anh về hôm nay, xin đừng tắm nhé. Nhất là đêm nay”. Thì có lẽ tướng quân ta cảm thấy nhiều hứng tình hơn khi ngửi cái hơi từ người đẹp.
Mà cái hơi này phải chăng cũng từ những giọt mồ hôi của người yêu. Mà khi đã phải hơi nhau thì mùi đó thơm hay không, cũng chẳng quan trọng. Có người ghiền rúc vào nách nhau để hít hà cái mùi nhiều khi khó ngửi của người tình mà đôi bên đã cùng nhau xa vắng lâu ngày.
Khoa học ngày nay nhìn sự đổ mồ hôi dưới góc cạnh thực tế hơn, ích lợi hơn cho sức khỏe. Vì sức khỏe là điều quan tâm lớn của mọi người, mọi sinh vật.
 Ðó là vai trò điều hòa thân nhiệt của sự đổ mồ hôi. 
Sự Ðổ Mồ Hôi
Ðổ mồ hôi là một hiện tượng sinh học tự nhiên và lành mạnh với nhiệm vụ quan trọng là giữ nhiệt độ cơ thể bình thường. Hệ thần kinh giao cảm nằm ở mặt trong của lồng ngực điều khiển sự hoạt động của các tuyến mồ hôi. Khi thần kinh này quá nhậy cảm thì mồ hôi tiết ra nhiều.
 Ðàn bà có nhiều tuyến mồ hơn đàn ông nhưng các ông lại sản xuất nhiều mồ hôi hơn quý bà vì tuyến của họ hoạt động mạnh hơn.
Ở người khỏe mạnh, mồ hôi thường toát ra khi làm việc lâu và mạnh nhất là trong môi trường không gió hoặc đi bộ giữa trưa Hè, thời tiết nóng nực.
Khi nhiệt độ trong cơ thể lên quá 37º C, các mạch máu ngoại vi mở rộng, chứa nhiều máu để đẩy bớt hơi nóng trong người ra ngoài rồi lưu hành trở lại với máu mát hơn.
Nếu nhiệt độ không khí tiếp tục lên cao, sự thoát nhiệt qua máu không đủ và cơ thể phải tiết ra chất lỏng để tán nhiệt. Ðó là sự đổ mồ hôi trên da. Trong một giờ, cơ thể có thể toát ra tới 1,5 lít mồ hôi.  Nếu mồ hôi mất nhiều quá mà không được bù đắp thì ta có thể sỉu, bất tỉnh vì máu lưu thông tới các cơ quan giảm, nhất là hệ thần kinh.
Mồ hôi là chất nước trong không mầu, kiềm tính với 2% vật thể đặc. Bình thường, mồ hôi gồm có nước, muối sodium chloride, potassium, urea.   
Ðông y coi Ðổ Mồ Hôi như một hình thức trị bệnh để loại trừ một số tác nhân độc hại xâm nhập cơ thể. Gây đổ mồ hôi là một trong ba phương thức trị bệnh cổ truyền: Gây ói, gây xổ và gây đổ mồ hôi. Cạo gió bằng dầu nóng, đánh cảm với cám rang là để ra mồ hôi, xông với lá Hương Nhu làm nhẹ vài bệnh nóng sốt. Và ngày nay người ta tắm hơi, ngồi sauna cũng cùng mục đích để toát mồ hôi. Cho người thư dãn, sảng khoái và cũng để nhẹ bớt mấy cân của tấm thân hơi bồ sứt cạp.
Nhưng mồ hôi nhiều ít cũng đưa tới một vài khó chịu cho cơ thể, đôi khi bệnh hoạn. 
Nhiều mồ hôi
Bình thường cơ thể tiết mồ hôi khi:
1-Thời tiết nóng nắng, thân nhiệt tăng thì mồ hôi tự nhiên đổ ra để hạ nhiệt độ cơ thể. Mỗi người có thể tiết ra tới 1 lít 50 mồ hôi trong một giờ đôi khi tới 3,5 lít.
2-Vận động cơ thể, làm việc chân tay trong khí hậu nhiệt độ cao và 40% độ ẩm, ta tiết ra trung bình là ½ lít mồ hôi trong một giờ. Khi mất chất lỏng như vậy thì máu ta sẽ đặc hơn, tim sẽ phải làm cố gắng làm việc nhiều hơn để đẩy máu ra và ta cảm thấy hơi mệt.
Ðể tránh khó khăn: khi tập luyện hoặc làm việc ngoài trời, nên uống khoảng hai ly nước trước khi tập; trong khi tập thì uống nửa ly cho mỗi lần tập kéo dài 20 phút. 
Ngoài ra một số yếu tố khác cũng đưa tới chứng Tăng Tiết Mồ Hôi (Hyperhidrosis) dù thân nhiệt bình thường hoặc khi nghỉ ngơi:
1- Khi có nhiều đau đớn, sợ hãi, xúc động hoặc căng thẳng (sợ toát mồ hôi hột); mồ hôi ra nhiều nhất là ở trên mặt, nách, lòng bàn tay bàn chân.
2- Ðôi khi mồ hôi cũng tiết ra khi ta tiêu thụ một vài gia vị cay, uống nước nóng hoặc nước có caffeine hoặc khi uống nhiều rượu.
 3- Một vài loại dược phẩm như thuốc trị bệnh tâm thần haldol, kích thích tố tuyến giáp, morphine, aspirin, acetaminophen, cocaine;
4- Bệnh gan, bệnh khí thũng phổi (emphysema), bệnh Parkinson, hội chứng suy yếu dây thần kinh ngoại vi Guillain-Barre;
5- Một số người đổ mồ hôi theo di truyền đặc biệt là ở lòng bàn tay, bàn chân.
6- Phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh với nóng phừng mặt, đổ mồ hôi vì kích thích tố nữ giảm;
7- Bệnh nhân tiểu đường điều trị bằng insulin khi đường huyết xuống quá thấp cũng đổ mồ hôi, run rẩy tay chân, yếu sức, chóng mặt, buồn nôn. Người tiểu đường mồ hôi có mùi chua như trái cây hư;
8- Cường tuyến giáp với nhiều kích thích tố của tuyến này khiến cơ thể nóng bừng, mồ hôi tiết ra;
9- Trong cơn Suy Tim Heart attack, bệnh nhân thấy đau ngực, khó thở, đổ mồ hôi đầm đìa; trong tai biến não stroke với tổn thương trung tâm điều hòa nhiệt độ ở não
10- Trong các bệnh nhiễm như Lao, sốt rét ngã nước bệnh nhân cũng đổ nhiều mồ hôi với nhiệt độ lên cao.
11- Bệnh ung thư bạch cầu hoặc u hạch bạch huyết lymphoma với mất cân, sốt, đổ mổ hôi;
12- Rối loạn tự miễn như trong các bệnh viêm thấp khớp (rheumatoid arthritis) hoặc lupus ban đỏ (Systemic lupus erythematosus)  
Một vài trường hợp đáng chú ý: 
1- Nhiều mồ hôi bàn tay:
Ðây là hình thức thường thấy và cũng gây khó chịu nhiều nhất.
Bàn tay người bệnh luôn luôn nhơm nhớp ẩm ướt và lạnh. Họ thường xuyên phải lau tay, tránh bắt tay người khác, gặp trở ngại khi đánh máy chữ hoặc chơn tay khi muốn cầm vật dụng hoặc khó khăn vẽ lông mày, tô môi son. Nhiều người ngại ngùng trong giao tế đôi khi trở nên cô lập.
Và càng bối rối, xúc động thì mồ hôi lại càng ra nhiều. 
2- Nhiều mồ hôi bàn chân.
Tuy không lộ liễu như nhiều mồ hôi tay nhưng nhiều mồ hôi chân là môi trường thuận lợi cho các bệnh nấm và vi khuẩn phát triển, đưa tới bệnh nhiễm bàn chân (Athlete’s Foot), viêm nhiễm móng chân, đi giầy và tất khó khăn mà đi dép thì hay tượt. 
3- Nhiều mồ hôi nách cũng là một trở ngại giao tế vì mảnh áo nơi đây hoặc ướt sũng nước hoặc hoen ố muối mặn với mùi hôi hôi, khó chịu.
4- Ðổ mồ hôi mặt, cổ, da đầu cũng thường xẩy ra khi đang ăn uống, nói trước công chúng hoặc gặp đám đông người vì xúc động, lo sợ.
5- Không có mồ hôi    
Sự đổ mồ hôi bị gián đoạn hoặc trở ngại dưới tác dụng của vài loại thuốc thần kinh; trong bệnh di truyền không có tuyến mồ hôi; khi có tồn thương thần kinh tự chủ điều khiển tuyến mồ hôi; khi có nhiễm trùng tuyến mồ hôi; phỏng da nặng; khi cơ thể khô nước vì ói mửa, đi tiêu chẩy và khi bị trúng thử heat stroke.
Không mồ hôi gây trở ngại cho sự thoát nhiệt của cơ thể và đưa tới rủi ro nghiêm trọng như trong trường hợp bị trúng thử, làm việc, vận động cơ thể hoặc đi trong nắng gắt mà không uống nước đầy đủ. Nhiệt độ trong người lên rất cao, da khô, cơ thể suy nhược và có thể bị hôn mê.
Năm 2003, cả mấy trăm dân chúng thành phố Ba Lê thiệt mạng vì thời tiết nóng nắng quá mức. Người cao tuổi và trẻ em là dễ bị tai nạn này lắm. Kinh nghiệm người lái xe khi ngoài trời quá nóng thì cảm thấy uể oải, mệt mòi, buồn ngủ nên dễ xẩy ra tai nạn. 
Mùi của mồ hôi
Nói tới mồ hôi thì cũng nên nói qua tới mùi của mồ hôi.
Bình thường mồ hôi không có mùi, vị hơi mặn vì có muối khoáng.
Mồ hôi có mùi là do tác dụng của các vi sinh vật lên mồ hôi mỡ lẫn chất đạm do các tuyến chất đặc apocrine tiết ra. Các tuyến này chỉ xuất hiện ở tuổi dậy thì và rất ít ở tuổi mãn kinh.
Không giống như tuyến nước eccrine có ở khắp cơ thể, tuyến apocrine lại có nhiều ở nách, bẹn, quanh cơ quan sinh dục và hậu môn, quanh núm vú. Mà những nơi này nhiệt độ thường cao, bí hơi, ẩm ướt, có nhiều lông và là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn, nấm độc trú ẩn. Vi khuẩn tác dụng lên chất béo chất đạm của mồ hôi và tạo ra mùi ngạt mũi, khó chịu. Và ta có hôi nách, mồ hôi khan thum thủm ở phần kín cơ thể, mồ hôi mầu thấm vào quần áo, mồ hôi khai ở lông và tóc.
Ngoài ra cơ thể cũng toát ra mùi qua hơi thở, các chất phế thải như phẩn và nước tiểu; trong một số bệnh kinh niên. Bệnh nhân tiểu đường có hơi thở mùi trái cây hư vì hóa chất acetone trong máu lên cao; mồ hôi mùi chuột chết ở bệnh thận trầm trọng; mùi hôi của tế bào hủy hoại khi nhiễm trùng ngoài da, cơ thịt.   
Ðiều trị
Nhiều người rất khó chịu, đôi khi bối rối vì đổ mồ hôi quá nhiều nhất là ở nơi dễ thấy như lòng bàn tay, nách. Bắt tay nhau mà tay ướt sũng thì cũng ngượng ngùng mà chiếc áo lụa Hà Ðông mới mua, nách áo vàng khè thì cũng khó coi lại tiếc chiếc áo vừa đẹp vừa đắt.
Cho nên trên thị trường có nhiều thuốc bán không cần toa để công chúng tiện dụng và khá công hiệu. Thuốc có thể là bôi thoa để chặn mồ hôi chẩy ra và đa số có chất căn bản Aluminum Chloride Hexahydrate.Thuốc được bôi dăm lần một tuần, vào buổi tối. Khi bớt mồ hôi thì bôi mỗi tuần một lần. Ðiều đáng lưu ý là tác dụng của aluminum không kéo dài lâu và sau đó mồ hôi có thể ra nhiều hơn.
 Cũng nên phân biệt thuốc chống tiết mồ hôi (antiperspirant) và chống mùi hôi (deodorant).
Trong deodorant có kháng sinh để diệt vi khuẩn tác dụng lên chất đạm của mồ hôi và gây ra mùi khó ngửi. Ðồng thời cũng có chất làm át mùi hôi.
Thuốc antiperspirant tạo cái nút bít tuyến không cho mồ hôi tiết ra 
Trường hợp khó hơn thì nên đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân và được điều trị thích đáng.
Thuốc anticholinergic như loại glycopyrrolate (Robinul, Robinul-Forte) chặn tác dụng gây đổ mồ hôi của acetylcholine.
Thuốc trấn an tâm thần, tâm lý trị liệu đôi khi cũng được dùng nếu nguyên nhân đổ mồ hôi là những xúc động, căng thẳng tinh thần. 
Gần đây, độc tố botulinum (Botox) đã được chích để chặn dây thần kích thích tuyến mồ hôi. Thuốc có công hiệu khoảng 4 tháng, sau đó phải chích lại.
Giải phẫu cắt bỏ tuyến mồ hôi hoặc cắt bỏ dây thần kinh kích thích tuyến này cũng được dùng khi mồ hôi ra nhiều ở nách, bàn tay. Trước đây, để cắt bỏ dây thần kinh phải mở rộng lồng ngực. Bây giờ với phương pháp nội soi, giải phẫu giản dị hơn nhiều và bệnh nhân chỉ cần nằm nhà thương từ 12 đến 24 giờ. 
Phương pháp kích thích bằng dòng điện (Iontopheresis): bệnh nhân nhúng tay vào chậu nước với một dòng điện cường độ nhẹ chạy qua, làm tuyến mồ hôi tê liệt và không tiết mồ hôi khoảng một tuần lễ.
Kinh nghiệm cổ truyền ta chữa trẻ em đổ mồ hôi trộm bằng nước lá hẹ nấu chín hoặc hạt tiêu mạch lép sắc với hồng táo uống thay trà.
Cụ Hải Thượng Lãn Ông có bài thuốc trị mồ trộm với nhân sâm, phục linh, toan táo tán thành bột.
Ðổ mồ hôi chân thì các cụ ngâm chân bằng nước trà ấm với một chút muối thô hoặc nửa tách giấm chua.
Tiểu thư khuê các Trung Hoa khi xưa bó bàn chân trong mảnh vải cho thon nhỏ thì chân có mùi hôi rất khó chịu. Họ thường xức loại nước gọi là Hương Liên Táo.
Mồ hôi nách khó chịu thì rang hàn the, tán thành bột rổi thoa vào nách.
Ngoài ra cũng nên giữ vệ sinh cá nhân, tắm rửa thường xuyên; giữ bàn chân khô ráo, thay tất mỗi ngày, đi giầy thông hơi; tránh mặc quần áo làm bằng sợi hóa chất bí hơi; tránh thực phẩm gây đổ mồ hôi; uống nhiều nước; tập luyện cơ thể khi trời mát; giữ đường huyết ở mức bình thường; nơi ở thoáng khí với quạt hoặc máy lạnh.
Trong túi luôn luôn có cuộn giấy mỏng để kín đáo thấm mồ hôi trước khi tay bắt mặt mừng hoặc mang đôi bao tay bằng sợi bông gòn có khả năng thấm nước. 
Và nên tham khảo ý kiến bác sĩ ngay khi nào thấy:
*Ðồ mô hôi lâu, nhiều mà không có nguyên do, có thể do bệnh tiểu đường, bệnh tuyến giáp…
*Ðổ mồ hôi với đau thắt ngực, có thể do heart attack;
*Ðổ mồ hôi ban đêm với mất sức nặng của cơ thể trong bệnh lao phổi.
Ðề được điều trị tới nơi tới chốn những nguyên nhân đưa tới chứng tiết mồ hôi quá nhiều. 
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
www.bsnguyenyduc.com
Tuyển tập Videos Sống Vui Sống Khoẻ
Vài hàng giới thiệu : Xin trân trọng giới thiệu tuyển tập Videos "Sống Vui Sống Khoẻ" của BS Nguyễn Ý Đức. Tuyển tập này là những bài nói chuyện hữu ích về y tế, dinh dưỡng và sức khoẻ của BS Nguyễn Ý Đức trên các đài truyền hình được đưa lên Internet. Cùng với bộ sách "Câu Chuyện Thầy Lang" và những ấn phẩm đã được xuất bản, những bài viết trên Internet, tuyển tập Videos "Sống Vui Sống Khoẻ" này sẽ cung cấp nhiều thông tin hữu ích, đóng góp vào việc cải thiện vấn đề sức khỏe cho cộng đồng người Việt Nam khắp nơi.

http://www.youtube.com/user/DrNguyenYDuc/videos

VỀ MỤC LỤC

 
   
Chuyện phiếm của Gã Siêu
 Lâu rồi, gã có viết một mẩu chuyện phiếm dựa trên câu danh ngôn: “Sau lưng anh đờn ông thành công, đều có bóng dáng một chị đờn bà”ø. Thế rồi một ngày rảnh rỗi, lang thang trên mạng, gã vô tình ghi nhận được hàng trăm câu ăn theo. Có những câu thật nhảm nhí, không nên liệt kê ra đây, những cũng có những câu tương đối được liệt vào hàng “ranh ngôn” cũng đáng cho gã suy nghĩ. Chẳng hạn:
Sau lưng anh đờn ông ngoại tình, là chị đờn bà ngồi rình.
Sau lưng anh đờn ông long nhong, là chị đờn bà long đong.
Sau lưng anh đờn ông lảm nhảm, là chị đờn bà thê thảm.
Sau lưng anh đờn ông nghèo khó, là chị đờn bà nhăn nhó.
Sau lưng anh đờn ông mê gái, là chị đờn bà tê tái.
Sau lưng anh đờn ông mất sĩ diện, là chị đờn bà nhiều chuyện.
Sau lưng anh đờn ông buồn phiền, là chị đờn bà đòi tiền.
Sau lưng anh đờn ông nổi tiếng, là chị đờn gà làm biếng.
Sau lưng anh đờn ông nhu nhược, là chị đờn bà láo xược.
Sau lưng anh đờn ông hay nhậu, là chị đờn bà rất quặu.
Và để cho thêm phần bình đẳng và cân bằng lực lương, thiên hạ còn phệu thêm:
            Sau lưng chị đờn bà thành công, là anh đờn ông bất tài.
            Sau lưng chị đờn bà kiêu kỳ, là anh đờn ông bị xì.
            Sau lưng chị đờn bà mạnh mẽ, là anh đờn ông giũ kẽ.
            Sau lưng chị đờn bà lo lắng, là anh đờn ông cố gắng.
            Sau lưng chị đờn bà lãng mạn, là anh đờn ông nông cạn.
            Sau lưng chị đờn bà đau đớn, là anh đờn ông cà chớn.
            Sau lưng chị đờn bà nhăn nhó, là anh đờn ông dúm dó…
Gã xin lựa ra hai câu trong số hàng trăm câu như, để làm đề tài bàn ra tán vào cho mục chuyện phiếm hôm nay.
 
THỨ NHẤT, SAU LƯNG ANH ĐỜN ÔNG THÀNH CÔNG,
LÀ CHỊ ĐỜN BÀ NGỒI KHÔNG 
Theo sự phân công tự nhiên, anh đờn ông thường thích hợp hơn với những công việc ngoài xã hội, còn chị đờn bà thường thích hợp hơn với những công việc trong gia đình. Vì thế, vai trò của anh chồng là vai trò “ngoại tướng”, lo công danh sự nghiệp và đem tiền về nuôi sống gia đình, còn vai trò của chị vợ là vai trò của “nội tướng” lo chuyện nữ công gia chánh và nuôi dạy con cái. Mặc dù ngày nay, nhiều chị đờn bà cũng đã anh dũng bước chân ra ngoài xã hội và cũng đã nắm giữ những vai trò quan trọng, không kém gì những anh đờn ông.
Một khi anh chồng đã thành công ngoài xã hội, tiền bạc chảy vô như thác đổ. Với những khoản tiền khổng lồ kiếm được ấy, người ta bắt đầu nghĩ đến việc trang bị những tiện nghi cho đời sống, nào là tủ lạnh, nào là máy giặt, nào là nồi cơm điện, nào là bếp ga, nào là lò hâm thức ăn, lò nướng thịt cá… Rồi lại còn thêm những hưởng thụ cho bản thân như tivi, xe hơi, bồn tắm…Và nhất là thuê mướn người giúp việc.
Tới đây thì những công việc nặng nhọc của người “nội tướng” không còn căng thẳng nữa, vì đã được giảm bớt đi rất nhiều, nên chị vợ có dư thời gian rảnh rỗi. Vì thế, nói rằng sau lưng anh đờn ông thành công, là chị đờn bà ngồi không, thì cũng chẳng phải là quá đáng.
Thế nhưng, như các cụ ta ngày xưa thường bảo: “Nhàn cư vi bất thiện”, sự nhàn rỗi là mẹ sinh ra các thói hư tật xấu. Chính vì ngồi không và thời giờ trở nên như quá thừa thãi, các chị vợ bèn nghĩ cách đầu tư vào những công việc, mà theo gã nghĩ tốt hay xấu còn tuỳ theo quan điểm, tuỳ theo cách nghĩ của mỗi người.
Trước hết, các chị vợ thường tụ tập lại để “tán” với nhau
Thôi thì đủ mọi thứ chuyện, từ chuyện trên trời đến chuyện dưới đất, từ chuyện trong nhà đến chuyện ngoài ngõ, từ chuyện anh chồng đến chuyện đứa con, bất cứ chuyện gì, nhất là những chuyện tình cảm ngoài luồng, đều trở thành những đề tài nóng sốt để các chị vợ tha hồ bàn ra tán vào. Tuy nhiên trong khi bàn ra tán vào như thế, các chị vợ thường thêm mắm thêm muối, thổi phồng thì nhiều, mà tôn trọng sự thật thì ít, chê bai thì nhiều mà khen ngợi thì ít. Thảo nào mà người Tây phương đã bảo:
- Nơi nào có hai hay ba người đờn bà tụ tập lại, thì nơi đó sẽ biến thành một cái chợ.
Báo chí ngày nay gọi đó là hiện tượng “buôn dưa lê”, còn người bình dân thì gọi là “ngồi lê đôi mách”, nghĩa là ngồi lê la hết chỗ nọ đến chỗ khác, để đưa chuyện nơi này đi nói cho nơi kia hay. Thậm chí trong một bài báo trên “Phụ Nữ Thứ Tư”, số ra ngày 6.7.2011, tác già Trần Triều còn gọi đó là “Kênh Đàn Bà”. Đại khái tác giả viết như sau:
“Chị em là người làm chung văn phòng, là tiểu thương ở chợ hay là hàng xóm, nói chung là ở bất kỳ nơi đâu có ba người phụ nữ trở lên trò chuyện với nhau, đều hình thành nên một kênh thông tin, gọi nôm na là “kênh đàn bà”. Chồng nói chưa hẳn đã nghe, con nói chưa chắc đã tin, nhưng những chị em cùng “kênh” mà rỉ thông tin gì vào tai là tin ngay. Mà qua kênh này, không phải thông tin nào cũng đúng”.
Thực vậy, những thông tin trên kênh này thường rất nóng bỏng, được phóng to, được tô màu đại vĩ tuyến và nhất là  được“bình luận” theo cặp kính màu chủ quan, nên rất méo mó và sự thật lắng đọng không được bao nhiêu. Lắm khi còn phát đi những thông tin làm đau đớn lòng quí ông. Sau đây là một trường hợp điển hình:
“Đang sinh hoạt vợ chồng đều đặn, anh T, chủ một cửa hàng điện máy lớn, gặp khó khăn trong chuyện làm ăn, nên bị stress, mất hết “phong độ” gần cả tuần lễ. Lo lắng, chị vợ đưa chuyện này ra chia sẻ với mấy cô bạn thân. Không ngờ, ai cũng tỏ ra lo lắng giùm chị. Một cô còn làm ra vẻ hình sự: “Mình đọc trên báo, thấy người ta viết nếu đàn ông đang vui vẻ với vợ đều đặn, mà đột ngột ngừng một thời gian dài, sẽ có hai khả năng xảy ra: Một là anh ta bị bệnh, hai là anh ta có bồ. Chị tin ngay, về nhà vặn hỏi: Anh có bệnh hay có bồ? Anh chồng đang bị stress, lại còn bị vợ hạch sách, nên đã phát khùng, mắng cho chị một trận te tua…”
Tụ tập lại với nhau, nếu không nói hành nói xấu, thì gây sòng không phải để nhậu, mà là để bài bạc.
Thôi thì đủ mùi đủ thứ, từ tứ sắc đến bài cào, từ tiến lên đến binh xập xám, các chị vợ đều xơi được cả. Ngày xưa, sống trong trại gia binh, gã đã từng chứng kiến những chị vợ sát phạt nhau trong mọi lúc, đêm quên ngủ ngày quên ăn. Trong khi các anh chồng đổ mồ hôi hột, thậm chí còn đổ cả những giọt máu nơi chiến trường. Lương tháng chồng mang về, chỉ vèo một cái là đã nướng sạch vào trò đỏ đen, thành thử con cái nheo nhóc và gia đình cứ túng thiếu dài dài. Thậm chí có chị còn đi vay nóng với lãi xuất cắt cổ, để được tiếp tục cuộc chơi.
Tiếp đến, các chị vợ trong những lúc ngồi không như thế, thường tiêu bớt quĩ thời gian bằng cách đi mỹ viện
Đường đường là một “bà nhớn”, một vị phu nhân, các chị vợ không thể để cho mình nhếch nhác. Không đẹp bằng chị, thì cũng phải đẹp bằng em, nên sẵn sàng làm đẹp bằng bất cứ giá nào. Chính vì thế, ngày nay các mỹ viện đua nhau mọc lên như nấm sau cơn mưa và các chủ nhân của nó kiếm được không ít tiền mỗi ngày. Cắt chỗ này, xẻ chỗ kia. Bơm chỗ này, hút chỗ nọ…Thế nhưng, nếu không khéo, thì khi ra khỏi mỹ viện, đẹp đâu không thấy, mà chỉ thấy ghê ơi là ghê! Giống hệt những cô đào cải lương trên sân khấu. Và hơn thế nữa, đôi khi còn kèm theo những biến chứng, nguy hại cho sức khoẻ.
Ngoài ra, trong khi nhiều chị vợ thích đi mỹ viện để sửa sắc đẹp, thì cũng có không ít chị vợ lại thích đi siêu thị để mua sắm
Và người ta gọi đó là “hội chứng sốp-pinh”. Dường như siêu thị có một ma lực hấp dẫn đối với các chị vợ. Đã bước chân vào thì phải ngắm nghía hết tầng này đến tầng kia và phải mua cho được thứ này thứ nọ, dù những thứ đó không mấy cần thiết, vì ở nhà đã có. Nhiều chị vợ còn sưu tầm và thấy hễ nơi nào khuyến mãi là phải ba chân bốn cẳng chạy tới cho bằng được. Không mua cũng uổng, giá rẻ mà. Các chị săn lùng khuyến mãi, như săn lùng tội phạm!
 
THỨ HAI, SAU LƯNG ANH ĐỜN ÔNG THẤT BẠI,
LÀ CHỊ ĐỜN BÀ XÚI DẠI 
Đây là một kinh nghiệm đau thường, đã có mặt ngay từ những trang đầu của lịch sử nhân loại. Thực vậy, như chúng ta đã biết: Adong Eva là nguyên tổ của nhân loại. Thưở ban đầu, hai ông bà được Thiên Chúa dựng nên và sống hạnh phúc trong vườn Địa Đàng, tức là sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa. Thế nhưng, cũng chỉ vì nghe lời vợ mà Adong đã phải nếm mùi khổ đau và nhân loại ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, mãi cho đến ngày hôm nay vẫn chưa hết. Sách Sáng Thế đã kể lại như sau:
“Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà:
- Có thật Thiên Chúa bảo: Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?
- Người đàn bà nói với con rắn:
- Các trái cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.
Rắn nói với người đàn bà:
- Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.
Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: Họ mới kết lá vả làm khố che thân. Nghe thấy tiếng Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt Thiên Chúa. Ngài  gọi con người và hỏi:
- Ngươi ở đâu?
Con người thưa:
- Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn.
Thiên Chúa hỏi:
- Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không?
Con người thưa:
- Người đàn bà Ngài ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn.
Thiên Chúa hỏi người đàn bà:
- Ngươi đã làm gì thế?
Người đàn bà thưa:
- Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.
Thiên Chúa phán với con rắn:
- Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó."
Với người đàn bà, Chúa phán:
- Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi.
Với con người, Chúa phán:
- Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: Ngươi đừng ăn nó, nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra.Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất. (St 3,1-19).
Cũng vì nghe lời Eva, mà Adong đã ăn trái cấm, để rồi đã phải cúi đầu lãnh nhận bản án của đau khổ và chết chóc. Bản án này được lưu truyền cho con cháu trong dòng thời gian và người ta đã gọi đó là tội nguyên tổ.
Kinh nghiệm đau thương này cũng đã được tái diễn ở khắp nơi, từ đông sang tây, từ cổ chí kim, khiến người ta đã phải thốt lên:
- Vua nghe vợ, mất nước.
Truyện rằng: Vào thời Xuân Thu bên Trung Quốc, vua nước Việt là Việt Vương Câu Tiễn đánh nhau với vua nước Ngô là Ngô Phù Sai và bị thua. Phạm Lãi khuyên Câu Tiễn nên dùng mỹ nhân kế mới mong phục hận. Phạm Lãi tìm được nàng Tây Thi, dâng vua Phù Sai. Tây Thi là một người con gái ở thôn Trử La, làm nghề dệt vải, có nhan sắc tuyệt trần không ai bì được. Vì thế, Phù Sai ngày đêm mê muội, say đắm quên cả việc nước.
Tương truyền rằng: Tây Thi có chứng đau bụng, mỗi lần đau thì nhăn mặt, mà nhăn mặt thì lại càng đẹp thêm. Cho nên mỗi lần nàng đau bụng nhăn mặt, Ngô Phù Sai lãi cùng say mê tán thưởng sắc đẹp của nàng. Ngoài ra, ông cũng đã hứa trọng thưởng những ai làm cho Tây Thi cười.
Có người hiến kế bằng cách xé lụa, bởi vì khi nghe tiếng lụa xé, nàng sẽ cười. Và thế là bao nhiêu lụa trong kho đều được mang ra xé để mua lấy một tiếng cười cho Tây Thi, nhưng tất cả đều thất bại.
Có người hiến kế: Đốt lửa ngoài biên giới, báo động kinh thành lâm nguy, để các nước chư hầu đem quân về tiếp viện. Trong khi đó Ngô Phù Sai cùng Tây Thi và triều thần ngồi uống rượu trên Cô Tô đài. Trước cảnh ngơ ngác của binh lính các nước chư hầu cùng với chiến xa và kỵ mã, Tây Thi đã cười lên như nắc nẻ. Kẻ hiến kế được trọng thưởng. Thế nhưng, khi kinh thành thực sự lâm nguy, đốt lửa cầu cứu, thì chẳng một  nước chư hầu nào đến tiếp viện vì sợ bị mắc lừa. Và kinh thành bị thất thủ.
Tình hình đã chín muồi, Việt Câu Tiễn dấy quân tiến đánh kinh đô và Ngô Phù Sai đã đại bại. Cũng chỉ vì say mê sắc đẹp đến nỗi quên cả việc triều chính, chỉ vì ra sức làm hài lòng người đẹp, mà Ngô Phù Sai đành phải mất nước và sự nghiệp tan theo mây khói.
Ngày nay không thiếu những anh chồng lâm vào cảnh ngồi nhà đá bóc lịch và nhìn thời gian lặng lẽ trôi, chỉ vì trót dại nghe lời chị vợ. Thực vậy, có chị vợ đã anh dũng tâm sự như sau:
“Với các anh chồng, phải thúc họ liên tục phấn đấu. Chưa có nhà thì mua nhà. Đã có ô tô, thì phấn đấu mua ô tô khác xịn hơn, rồi phấn đấu mua nhà thứ hai. Thậm chí, cứ mạnh dạn vay nợ mà mua, để anh ta phấn đấu trả nợ. Nếu anh ta rảnh, không phấn đấu gì cả, mà tiền bạc lại rủng rỉnh, thì thế nào cũng sẽ đèo bòng bồ nhí”.
Trong những lúc thân mật, chị vợ cứ rót vào tai anh chồng những lời có cánh, khiến anh chồng không còn nhận ra phải trái, cứ nhắm mắt phấn đấu làm theo, dấn thân vào con đường làm ăn lươn lẹo, như buôn lậu, tham nhũng, hối lộ. Đó chính là con đường ngắn nhất dẫn tới thân bại danh liệt. Và như vậy, một sự thật đã được sáng tỏ: Sau lưng anh đờn ông thất bại, là chị đờn bà xúi dại!
Gã Siêu   gasieu@gmail.com
VỀ MỤC LỤC
 

 
   
Mọii liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến, bài vở..., xin gởi về địa chỉ
 
giaosivietnam@gmail.com
 
- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:
 
Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục vụ của Giáo sĩ;  Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh vực; Mỗi  Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)
 
- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại
 
www.conggiaovietnam.net
 
Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị
 
Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác nhau.
 
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam
 
Lm. Luca Phạm Quốc Sử  USA


[1] ĐGH Biển Đức XVI, Deus Caritas Est, số 1.
 
[2] x. GL 233.
[3] Bộ GDCG, Chỉ dẫn việc huấn luyện độc thân linh mục tr.7-75.
[4] GL 1024-1052.
[5] Trích huấn từ buổi tiếp kiến chung ngày 23/6/2013.
[6] Theo Health Times và China Daily, Bộ Y tế Trung quốc cho biết sữa bột của công ty Synutra của Trung quốc có chứa hormone sinh dục cao hơn mức bình thường ở người lớn kích thích gây dậy thì sớm ở trẻ 4-15 tháng tuổi.
[7] Xin xem Ephesô 2,1-10.
[8] Vì muốn việc thanh lọc được nghiêm túc dựa vào lương tâm ứng sinh và tính cách thánh thiêng, một số ứng sinh bị buộc đặt tay trên Phúc Âm thề nói sự thật và vì sợ bị loại nên đã thề gian. Cần xem lại đường lối sư phạm và nhắc ứng sinh biết có thể dối người chứ không dối đuợc Chúa và lương tâm mình đâu.
[9] Con cóc đẻ trứng dưới nước, nở ra nòng nọc. Khi nòng nọc biến thái, đứt đuôi thành cóc thì lên sống trên khô. Cóc không xuống sống dưới nước, nếu lỡ bị rơi hay bị ném xuống nước, cóc sẽ vội vả tìm cách lên khô. Sự dứt khoát đoạn tuyệt với các tình huống tình cũ cũng phải như thế.
[10] Theo CWNews 26.03.2010, ĐGH Biển-Đức XVI đã rất kiên quyết và dứt khoát trong việc xử lý những trường hợp lạm dụng tính dục.
[11] Hỏi Chúa nhưng ứng sinh trả lời cho chính mình: “Chúa có muốn con làm linh mục không? Nếu con làm linh mục, có gì nguy hại cho con, cho người khác và cho Giáo Hội không?”
[12] GL 1043: Buộc tín hữu phải trình báo với Bản quyền về người có những ngăn trở để nhận lãnh chức thánh.
[13] Optatam Totius số 21.
[14] GL 239,2; 240,2; 246,4; FABC, 7th Plenary Assembly, Spiritual Direction.
[15] Xem CWNews 18.03.2010: Một giới chức Vatican nhắc nhở các độc giả tờ Osservatore Romano: Nếu một linh mục thú nhận lạm dụng các trẻ em trong một lần đến bí tích thống hối, thì cha giải tội không được tố cáo vụ lạm dụng ấy cho các thẩm quyền hợp pháp. ĐGM Gianfranco Girotti, một giới chức của Toà Ân Giải, nhấn mạnh rằng ấn toà trong là tuyệt đối. Cha giải tội không được làm bất cứ điều gì dựa trên những lời thú tội của hối nhân hoặc tiết lộ những tội đã được xưng ra cho bất kỳ người nào. Ngài nói: “Việc duy nhất toà giải tội có thể làm là xá tội”. Lời chỉ trích các giám mục Công giáo về việc xử lý và giải quyết các linh mục lạm dụng tập trung vào những trường hợp trong đó những phát hiện lạm dụng là ở ngoài toà giải tội – hoặc qua những khiếu nại từ các nạn nhân hoặc qua những lời thú nhận do các linh mục trong những phỏng vấn hành chính.
[16] x. GL 241.

Tác giả bài viết: Lm. Luca Phạm Quốc Sử

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: giáo hội, ly khai

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn