Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 52

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 244305

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 21421264

Trang nhất » Tin Tức » SỐNG ĐẠO MỖI NGÀY » Sống với tin mừng

CN II MÙA VỌNG - B

Thứ bảy - 06/12/2014 21:23
CN II MÙA VỌNG - B

CN II MÙA VỌNG - B

Mc. 1, 1-8 07-12-2014 SỨ VỤ CỦA GIOAN – KHỞI ĐẦU TIN MỪNG – Lm. Px. Vũ Phan long, ofm .. 02 TÍCH CỰC CHUẨN BỊ ĐÓN CHÚA ĐẾN – Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái ………….….. 12 CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG NĂM B – Lm. Ignatio Hồ Thông …………………….. 26 DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA ĐẾN – Lm. Giuse Đinh Lập Liễm …………………… 39 HÃY DỌN SẴN ĐƯỜNG CHO CHÚA – Lm. Giuse Đinh Tất Quý …………………. 47 HÃY CHUẨN BỊ TÂM HỒN CHO XỨNG – Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ ………….. 52 NẺO ĐƯỜNG SÁM HỐI – UBKT. HĐGM VIỆTNAM ………………….………………. 55 TIẾNG HÔ TRONG SA MẠC – Gm. Giuse Vũ Văn Thiên ...……………………….. 58 ĐÓN CHÚA ĐẾN TRONG HOANG MẠC ĐỜI – JM, Lâm Thy,ĐVD …………….… 61 TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN DỌN ĐƯỜNG CHO – Lm. Vinhsơn Trần Minh Hoà. 65 NGƯỜI PHU QUÉT LÁ - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An ……………………………….. 68 DỌN ĐƯỜNG – Lm. Giuse Trần Việt Hùng …………………………………………….. 74 ĐOÀN DÂN ĐANG MONG ĐỢI – Lm. Giuse nguyễn Hưng Lợi, CSsR ………... 78 CHUẨN BỊ ĐÓN CHÚA ĐẾN – Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, CSsR ……………… 81 LẦM LỖI VÀ SÁM HỐI – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền ……………………………………….. 86 CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG NĂM B – Lm. Phêrô Trần Thế Tuyên ……………. 88
SỨ VỤ CỦA GIOAN – KHỞI ĐẦU TIN MỪNG
Gioan là vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế; người Kitô hữu cũng có một vai trò tiền hô đối với anh chị em mình.
Lm. Px. Vũ Phan long, ofm
 
I. NGỮ CẢNH
Có thể theo G. Gnilka mà coi Mc 1,1-15 là lời tựa hoặc mở đầu của Tin Mừng Máccô: phần này đăt trọng tâm vào “Tin Mừng” (x. cấu trúc đóng khung với từ “Tin Mừng” ở đầu và cuối đoạn). Như thế, đoạn văn 1,1-8 là đoạn mở đầu của Lời tựa này liên hệ đến hoạt động của Gioan Tẩy Giả trong hoang địa.
 
II. BỐ CỤC
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Danh hiệu của Tin Mừng (1,1);
2) Hoạt động của Gioan (1,2-6):
a) Câu trích Isaia xác định vai trò của Gioan (cc. 2-3),
b) Giới thiệu tóm tắt bản thân và hoạt động của Gioan (cc. 4-6);
3) Lời loan báo của Gioan (1,7-8).
 
III. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
- Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa (1): Câu này là tiêu đề của cc. 1-8 nói về công việc rao giảng của Gioan Tẩy Giả, hay là tiêu đề của phần Mở (cc. 1-15), hoặc của toàn tác phẩm? Phải chăng sứ vụ, cuộc Khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu chỉ là khởi đầu của Tin Mừng, và Tin Mừng sẽ được tiếp tục loan truyền nhờ sứ vụ của Giáo Hội? Thật ra, không có gì cho thấy rằng Mc coi hoạt động của Giáo Hội như một phần của Tin Mừng cả, y như thể Giáo Hội phải tự rao giảng về chính mình. Cứ theo nội dung của tác phẩm, ta thấy Tin Mừng mà Giáo Hội phải công bố chính là biến cố cứu độ đã xảy ra trước khi có Giáo Hội và đã khai sinh ra Giáo Hội, đó là sứ vụ của Đức Giêsu và cuộc Vượt Qua của Người.

Có thể nói c. 1 này là tiêu đề của phần Mở của TM Mc: hoạt động của Gioan, vị Tiền Hô loan báo và ban phép rửa cho Đức Kitô, trong hoang địa, là phần mở cho biến cố cánh chung (sứ vụ, cuộc đời đau khổ và cuộc tôn vinh của Đức Giêsu).

Từ ngữ “Tin Mừng”, được vay mượn từ Cựu Ước (x. Is 40,9; 52,7; 61,1…), được hiểu tương đương với lời loan báo tiên khởi (kêrygma) được triển khai rộng ra (x. Công vụ). Thế mà kêrygma của các Tông đồ (x. Cv 1,21t; 10,37; 13,24) cũng như TM Mc bắt đầu với sứ vụ của Gioan Tẩy Giả. Vậy chính mầu nhiệm này là “khởi đầu Tin Mừng” (x. cùng một kiểu diễn tả: Hôsê 1,2 ).

- Tin Mừng Đức Giêsu, Con Thiên Chúa: Phần Mở từ c. 1 đến c. 15: hai từ ngữ “Tin Mừng” đóng khung bản văn này. Kiểu nói “Tin Mừng Đức Giêsu Kitô” có thể hiểu là “Tin Mừng về [= có đối tượng là] Đức Giêsu Kitô” (thuộc-cách chỉ đối tượng, objective genitive), hoặc “Tin Mừng của [= đến từ] Đức Giêsu Kitô” (thuộc-cách chỉ chủ từ, subjective genitive), hoặc “Tin Mừng là chính Đức Giêsu Kitô” (thuộc-cách giải thích, epexegetic genitive; xem sự song đối giữa “vì Đức Kitô” và “vì Tin Mừng”: 8,35; 10,29; 13,9).

Dưới ánh sáng của biến cố Phục Sinh, các Kitô hữu đã hiểu Đức Giêsu là Đấng Mêsia, Con Thiên Chúa, theo nghĩa là Người không còn phải là Đấng Mêsia trần thế và dân tộc mà người Do Thái từng mong đợi, nhưng là Đấng huyền nhiệm, đã tỏ mình ra là “Đức Chúa” (x. Cv 2,36) và “Đấng Kitô” (4,26t; 10,38), qua biến cố Phục Sinh, nay ở vào tư thế có thể giải thoát mọi người khỏi Satan, tội lỗi, đau khổ và cái chết. Bây giờ khi đọc lại câu truyện trước Phục Sinh Mc viết ra, họ hiểu rằng tại hoang địa và qua cuộc sống công khai (với những cuộc trừ quỷ), Đức Giêsu đã khai mào chiến thắng bằng sức giải phóng ấy. Họ cũng hiểu rằng Đức Giêsu truyền lệnh giữ thinh lặng (“bí mật thiên sai”) là vì không muốn người ta hiểu lầm về tư cách và sứ vụ của Người: Phêrô đã hiểu sai nội dung danh hiệu Mêsia (x. 8,29-33); Người chỉ nhận là Con Thiên Chúa (14,61t) và kẻ đại diện cho thế giới ngoại giáo chỉ tuyên xưng Người như thế (15,39) vào lúc Người bị kết án và xử tử. Người ta chỉ có thể hiểu tất cả các danh hiệu của Đức Giêsu xuyên qua mầu nhiệm đau khổ của Người. Và các Kitô hữu cũng phải hiểu rằng họ chỉ có thể tuyên xưng Đức Giêsu thật là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa, bằng cách bước theo Người trên con đường đau khổ (x. 8,34; 10,35-45).
 
- Câu 2-6:
Phân  đoạn này có lược đồ A-B-B’-A’:
A = cc. 2-3: mở đầu, trích các ngôn sứ,
B = c. 4 : Gioan rao giảng phép rửa tỏ lòng sám hối. 
Trình duyệt của bạn có thể không hỗ trợ hiển thị hình này.Câu này song đối với câu  sau,
B’= c. 5 : đám đông đến với Gioan để thú tội và nhận phép rửa,
A’= c. 6 : kết, nói đến kiểu sống của Gioan như là một ngôn sứ.
         
So sánh cc. 2-3 trích Ml 3,1 và Is 40,3 với Mt (3,3; 11,10), Lc (3,4-6; 7,27) và Ga (1,23), ta hiểu các tác giả Tin Mừng có chung một nguồn, nhưng Mc đã vừa thêm vừa tổng hợp câu truyện Gioan rao giảng với bài tường thuật của ngài về nhóm sứ giả, để làm nên một mở đầu long trọng và để có thể nêu bật ý tưởng này là khởi đầu Tin Mừng Cứu Độ đã được chính các ngôn sứ xác định nơi cuộc xuất hiện của Gioan Tẩy Giả.

Mc đã trích Ml 3,1a (… “mặt Ta”) dưới ảnh hưởng của Xh 23,20 LXX (“mặt Con”) để biến vị sứ giả thành tiền hô không phải của Thiên Chúa mà là của “Đức Chúa” (x. Ml 3,1b), là Đức Giêsu. Ngoài ra, hẳn là Mc cũng nghĩ đến đoạn cuối của sách Ml (3,23t): ngôn sứ Êlia có vai trò tiền hô.

Tác giả cũng sử dụng bản văn Is 40,3 (LXX) cùng với các tác giả Tin Mừng khác: “Đức Chúa” đây là Đức Giêsu Kitô, và “vạch lối cho thẳng để Thiên Chúa đi” được sửa thành “để Người đi”.

- đi trước mặt Con = đi trước Con.

- Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện (4): Câu này với các câu trích ở trên chỉ là một câu duy nhất, được ngắt bằng dấu phết: “Chiếu theo lời đã chép …, ông Gioan Tẩy Giả…”. Những gì bây giờ được nói về Gioan thì làm ứng nghiệm các sấm ngôn, đặc biệt sấm ngôn Is 40,3: ông ở “trong hoang địa”, và tại đó ông “hô” để kêu gọi người ta hoán cải, mà “dọn sẵn con đường của Đức Chúa” (Đức Giêsu).

Gioan “rao giảng thanh tẩy hối cải, để được tha thứ tội khiên” (NTT). Đấy là hai hành vi tách biệt nhưng liên hệ với nhau, vì thế đã được diễn tả trong một công thức duy nhất.
 
- sám hối  metanoia: sự hoán cải, do động từ metanoeô, “suy tưởng sau”, “suy nghĩ tiếp đó”; “thay đổi ý kiến”; “hối tiếc”, “hối hận”, “hoán cải”. Đây là việc chuyển đi từ tình trạng này sang một tình trạng khác, tức là thay đổi trọn vẹn lối sống. Sự thay đổi này có một phương diện tiêu cực (bỏ [apo, from] con đường tội lỗi: x. Cv 8,22; Dt 6,1) và một phương diện tích cực (quay về [eis, epi, to] với Thiên Chúa: Cv  20,21; 26,20).

Trong TM Mc, danh từ metanoia được dùng 1 lần (1,4) và động từ metanoeô được dùng 2 lần (1,15; 6,12), như thế là ít hơn các TMNL khác (metanoia: Mt 2 lần, Lc 5x, Ga 0x, Cv 6x, Phaolô 4x, Dt 3x, 2 Pr 1x; metanoeô: Mt 5x, Lc 9x, Ga 0x, Cv 5x, Phaolô 1x, Kh 12x), nhưng lại có một cách áp dụng độc đáo. Tác giả áp dụng hai từ này cho hoạt động của Gioan Tẩy Giả (1,4), Đức Giêsu (1,15) và Nhóm Mười Hai (6,12), như vậy liên kết vị Tiền Hô, Đức Giêsu và các sứ giả của Người với nhau (xem một cách dùng tương tự cho hai động từ kêryssein [loan báo]: 1,4.7; 1,14.38t; 3,14 và 6,12; paradidonai [giao nộp]: 1,14; 9,31; 10,33; 13,9.11). Các từ đó lại luôn lệ thuộc động từ kêryssein, nghĩa là các từ đó chính là nội dung của sứ điệp các ông phải mang đi truyền bá.

- phép rửa tỏ lòng sám hối: Cụm từ Hy Lạp baptisma metanoias (thanh tẩy hối cải, x. Lc 3,3; Cv 13,24; 19,4): metanoias ở thuộc-cách (genitive) xác định đặc tính của phép rửa Gioan loan báo. Đây là một kiểu nói Sêmít, có nghĩa là “một phép rửa tượng trưng hoặc diễn tả sự hoán cải”. Cho dù Gioan có thuộc về phong trào Êxêni ở Qumrân hay không, phép rửa của ông tương tự phép rửa của người Êxêni, nhất là ở điểm cả hai phép rửa đều diễn tả một sự hoán cải nội tâm, sự hoán cải này vừa là hành vi của con người vừa là ân huệ của Thiên Chúa, cũng như chuẩn bị các tâm hồn đón tiếp Thiên Chúa sắp đến can thiệp vào thời cánh chung. Tuy nhiên, Gioan khác người Êxêni ở hai điểm: không nghĩ rằng tội lỗi gây nên một sự ô nhơ nơi thân xác; không buộc các hối nhân phải sống một năm thử thách; chỉ ban phép rửa một lần, vì đây là hành vi chuẩn bị cuối cùng để đón Đấng Mêsia ngự đến.

- Mọi người từ khắp miền Galilê và thành Giêrusalem (5): Mc nhắm cho thấy mục tiêu của sứ vụ Gioan Tẩy Giả là khai mạc giai đoạn cuối cùng của Chương trình Thiên Chúa cứu độ loài người. Như thế, kiểu nói phóng đại (“toàn thể”, “khắp”) về miền Giuđê và Giêrusalem, kinh đô tôn giáo của Do Thái giáo, không phải là không có chủ ý, nhất là lại có quy chiếu về việc thanh tẩy Giuđa và Giêrusalem thể theo Ml 3,4 hoặc quy chiếu về sứ điệp vui tươi được ngỏ với Giêrusalem và các thành Giuđa thể theo Is 40,9t. Nay đã khởi sự biến cố cánh chung: câu hỏi phải đặt ra là không biết Dân Thiên Chúa có nhận biết chăng “Đức Kitô, Con Thiên Chúa” (c. 1) chính là “Đấng quyền thế hơn” (c. 7), Đấng mà Gioan đang dọn đường đón tiếp.

- kéo đến: Thì vị hoàn (imperfect) exeporeueto diễn tả chuỗi người liên tục kéo đến để nghe Gioan giảng và nhận phép rửa. Giới từ ek (out, of) muốn nói là ra khỏi miền Giuđê và thành Giêrusalem.

- Gioan mặc áo lông lạc đà… (6): ên .. endedymenos: trợ động từ eimi ở thì vị hoàn cộng với phân từ quá khứ của động từ chính endyô nói lên cách thức ăn mặc quen thuộc của Gioan. Ông được giới thiệu có cách sống như một con người của hoang địa, một nhà khổ hạnh, một na-dia (x. Lc 1,15), tương tự ngôn sứ Êlia (x. 2 V 1,8; Dcr 13,4).
 
Trichas kamêlou, “lông lạc đà”, không có nghĩa là “da” lạc đà. Đây là cái áo dài và rộng dệt bằng lông lạc đà. Zônê, “girdle, waitsband; ceinture”, không phải là dây thắt lưng của người Tây phương, nhưng là một thứ như cái “ruột tượng” của ta (x. Mc 6,8).

- Ăn châu chấu: Châu chấu luộc trong nước muối rồi nướng trên than và mật ong rừng là hai thứ lương thực của dân cư sa mạc. Vì bản văn không kể ra thứ lương thực nào khác, ta hiểu ở đây tác giả muốn nêu bật nếp sống khắc khổ của vị Tẩy Giả.  

- Ông rao giảng (7): ekêryssen, do động từ Hy Lạp kêryssein, “công bố; loan báo”, ở thì vị hoàn, để diễn tả đây là một hoạt động thường xuyên của Gioan. Chúng ta đến đỉnh cao của đoạn văn này, bởi vì chỉ đến đây, Gioan mới lên tiếng mà chỉ cho thấy Đấng ông làm Tiền Hô cho.

- Đấng quyền thế hơn tôi: Có lẽ danh xưng này ám chỉ đến Is 40,10 (“Kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng [= đến với sức mạnh], tay nắm trọn chủ quyền”). Sự tương phản giữa hai bên lớn đến nỗi Gioan “không đáng cởi quai dép cho Người”, mà đây là công việc thấp hèn đến nỗi một nô lệ Do Thái cũng không buộc phải làm cho chủ (sách Mishna) (x. Mt 3,11; Lc 3,16; Ga 1,15.27.30; 3,30; Cv 13,25).

- trong Thánh Thần (8): Các bản văn Nhất Lãm song song (Mt 3,11; Lc 3,16) đọc là “trong Thánh Thần và lửa”. Có lẽ lúc đầu, câu này có hình thức là “gió và lửa” để mô tả biến cố Triều Đại cánh chung của Thiên Chúa ngự đến. Mc chỉ quan tâm đối lập nghi thức chuẩn bị của Gioan với việc thiết lập Nước Thiên Chúa nhờ hoạt động của Đức Kitô, mà không nói đến phán xét. Nhờ đó, Người đưa lại cho “phép rửa trong Thánh Thần” ý nghĩa tích cực là một cuộc tái sinh bên trong.
 
 
IV. Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN
* Danh hiệu của Tin Mừng (1)
Cả bốn quyển mở đầu bộ Tân Ước chỉ bắt đầu được gọi là “Tin Mừng” nhiều năm sau khi được viết ra. Vào thời tác giả Máccô, “Tin Mừng” không có nghĩa là một quyển sách, mà là “những tin vui” do một sứ giả mang đến. “Các tin mừng” là những tin về các chiến thắng, các biến cố may lành, các hiệp ước hòa bình và nhất là tin về các cuộc chào đời. “Các tin mừng” làm bừng lên những niềm hy vọng về một cuộc sống tiện nghi, sức khỏe, bình an, nên dân chúng vui sướng khi nghe được.    

Mc 1,1 dùng từ ngữ “tin mừng” để giới thiệu “lời rao giảng của Kitô giáo”, cho chúng ta biết việc cứu độ và hạnh phúc không còn là kết quả của những tin vui về hoàng đế hoặc về một ai đó giống như hoàng đế, nhưng là kết quả đến từ lời rao giảng của Đức Giêsu, cũng là lời giảng về Đức Giêsu, cho thấy đã đến lúc Thiên Chúa can thiệp chung kết vào lịch sử loài người.
 
* Hoạt động của Gioan (2-6)
Câu trích tổng hợp Is, Ml và Xh (cc. 2-3) có mục đích xác định vai trò của Gioan trong quan hệ với Đấng Mêsia mà ta biết là chính Đức Giêsu. Nhưng một nét được nêu bật là Gioan không phải là vị Tiền Hô của Con Người sẽ đến, mà là của Đức Giêsu trần thế.  

Còn cc. 4-6 giới thiệu tóm tắt bản thân và hoạt động của Gioan: ông loan báo phép rửa bày tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Tác giả đặt đối lập phép rửa bằng nước của Gioan và phép rửa bằng Thánh Thần của Đấng Mêsia. Phép rửa bằng Thánh Thần liên hệ rõ ràng đến phép rửa tội Kitô giáo. Nói đến “để được ơn tha tội” là nêu một khẳng định liên hệ đến Thiên Chúa: Ngài sẵn sàng tha thứ các tội lỗi; nói đến “sám hối” là nêu một khẳng định về loài người: họ có tội và được dạy rằng Thiên Chúa tha tội cho họ. Sứ điệp của Gioan đưa đến cả nỗi sợ hãi lẫn niềm vui.

Dân chúng đã từ khắp nơi kéo đến (khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem); tác giả không nói đến Galilê, vì theo ngài, hoạt động của vị Tiền Hô tập trung vào miền nam. Họ thú nhận tội lỗi: ta có thể nghĩ đến một hành vi tương tự mà các thành viên ở Qumrân làm vào lễ tái lập giao ước (1 QS 1,22–2,1) hoặc người Do Thái làm vào ngày Lễ Xá Tội.  
 
* Lời loan báo của Gioan (7-8)
Tương hợp với câu trích Is nói về tiếng nói của người loan báo, hoạt động của Gioan được mô tả như là một việc “hô to [như anh mõ làng]”; “công bố”; “phổ biến” (kçryssein). Hành vi này đưa ông đến gần Đức Giêsu (1,14.38t), các môn đệ (3,14; 6,12), Tin Mừng (13,10; 14,9), các sứ giả đức tin (1,45; 5,20; 7,36). Cùng với sự đối lập giữa phép rửa của ông với phép rửa của Đấng Mêsia, ông loan báo “Đấng quyền thế hơn (= Đấng mạnh hơn [ông])” đang đến. 
 
] Kết luận
Đến đây, chúng ta đã có thể hiểu vì sao sứ vụ của Gioan lại là “khởi đầu Tin Mừng”. Bởi vì Tin Mừng là biến cố trước khi là sứ điệp. Qua vị Tẩy Giả, Thiên Chúa thực hiện các Lời Ngài hứa (cc. 2-3); Thiên Chúa thực hiện nơi Đức Giêsu, Đấng sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần (cc. 6-8). Như thế, sứ vụ của Gioan đã thuộc về biến cố cánh chung, biến cố này xảy ra khi Đức Giêsu bắt đầu rao giảng tại Galilê và các môn đệ rao giảng khắp tứ phương thiên hạ.
Gioan chỉ là một sứ giả “đi trước mặt” Đức Chúa (c. 2). Nhưng cũng chính ông có nhiệm vụ viết trang dẫn nhập vào Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa. Chính vì thế, “trong số phàm nhân lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả” (Mt 11,11).
 
V. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Chúng ta được mời gọi tin vào sự trung tín của Thiên Chúa: Ngài đã lên kế hoạch cứu độ, thì khi đến thời Ngài đã định, Ngài sẽ ban gửi các vị loan báo Tin Mừng Cứu Độ đến. Sứ điệp Gioan loan báo mang lại cả nỗi sợ hãi lẫn niềm vui, bởi vì ông nói cho họ biết rằng họ bị thất sủng, tương quan của họ với Thiên Chúa đã bị rối loạn, nhưng đồng thời ông khẳng định rằng Thiên Chúa đầy lòng thương xót đối với họ và Ngài muốn thắng vượt tình trạng thất sủng của họ. Đoạn văn này cũng cho thấy Ba Ngôi (Đấng xưng là“Ta”, “Đấng quyền thế hơn” và “Thánh Thần”) cùng làm việc để thực hiện công trình cứu độ.

2. Gioan không xác định tội ông nói đến là tội gì. Dĩ nhiên ông có thể hiểu ngầm rằng những người đang nghe ông biết các tội của họ. Từ sự hiểu biết này phát sinh ước muốn thú nhận các tội lỗi của mình (1,5). Tuy nhiên, tội căn bản là loài người không nhận biết Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên mình và là Chúa tể của mình, không tự hỏi về ý muốn của Thiên Chúa, nhưng muốn làm chúa tể của chính mình, đi theo những ý muốn của mình. Đặc biệt tội hệ tại việc không tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa vì các điều răn cho biết ý muốn của Thiên Chúa.   

3. Người Kitô hữu cũng có một vai trò tiền hô đối với anh chị em mình. Muốn thế, cần xác định rõ ràng quan hệ của mình với “Đấng đang đến”, để khiêm tốn và trung thực giới thiệu về Người như là Đấng đã đang có mặt trong lịch sử loài người.

4. Vị Tẩy Giả nhìn người ta lên khỏi nước. Ông gạt đi các lời cám ơn và ca ngợi. Ông nói với họ về “Đấng quyền thế hơn”, Đấng sẽ ban cho họ Thần Khí của đời sống mới. Đời sống này sẽ khởi sự khi người ta nhận ra và đón tiếp Đức Kitô cùng với sự khôn ngoan của Người vào lòng. Họ đang ở tại bờ của một khởi đầu; họ cần sẵn sàng, khao khát, mở lòng ra.
 
Lm. Px. Vũ Phan long, ofm
 
TÍCH CỰC CHUẨN BỊ ĐÓN CHÚA ĐẾN
Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
 
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Mùa vọng là thời gian chúng ta chờ đợi Chúa đến viếng thăm tâm hồn mình. Nhưng chờ đợi không phải là thụ động không làm gì, trái lại phải tích cực chuẩn bị cho cuộc viếng thăm đó. Hôm nay, Hội Thánh dùng lại lời của Thánh Gioan Tẩy giả để kêu gọi chúng ta "Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng". Chúng ta hãy đáp ứng lời kêu gọi này.
 
II. GỢI Ý SÁM HỐI
  • Tâm hồn chúng ta từ bấy lâu nay như một ngôi nhà không quét dọn, đầy dẫy rác rến, bụi bậm, không xứng đáng được Chúa đến thăm.
  • Cuộc đời chúng ta như một con đường chỗ lồi chỗ lõm chỗ quanh co khiến Chúa khó đến với chúng ta.
  • Bấy lâu nay chúng ta chỉ lo đến bản thân mình, không nghĩ đến việc mời Chúa đến thăm.
 
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1:  Is 40, 1-5. 9-11
Ðoạn này nằm trong phần thứ hai sách Isaia (các chương 40-45), được soạn bởi một đệ tử của ngôn sứ Isaia mà người ta gọi là Ðệ nhị Isaia. Phần này được soạn vào cuối thời lưu đày. Do nội dung, nó cũng được đặt tên là Sách An Ủi.
 
Trong đoạn này, có 3 ý tưởng đáng lưu ý:
a. "Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá". Ngày xưa, vì dân Do Thái phạm tội nên Thiên Chúa đã cho họ bị lưu đày. Nhưng nay đã tới lúc Thiên Chúa ân xá tội lỗi cho họ và chấm dứt thời nô lệ của họ. Vì thế, tác giả bảo "Hãy an tâm, hãy an tâm".
b. Tác giả còn kêu gọi "Hãy dọn đường. Hãy sửa đường Chúa chúng ta trong hoang địa". Sau khi kết thúc thời lưu đày, dân sẽ trở về quê hương theo một hành trình qua sa mạc, giống như một cuộc xuất hành mới qua sa mạc để về Ðất Hứa. Bởi thế, cũng như ngày xưa trong cuộc xuất hành thứ nhất, Thiên Chúa đã đi trước dẫn đường, thì trong cuộc xuất hành này, Thiên Chúa cũng sẽ dẫn đường cho họ. Vì thế mà phải dọn đường, phải sửa đường. Hành trình qua sa mạc không phải chỉ là thời gian thử thách, mà còn là thời gian thanh luyện.
c. Tác giả mô tả Thiên Chúa như một mục tử. Thiên Chúa chẳng những là Ðấng giải thoát, Ðấng dẫn đường, mà còn là Ðấng yêu thương: "Ngài ẵm chiên con trên cánh tay, ôm ấp chúng trong lòng và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ".
 
2. Ðáp ca: Tv 84
Tv 84 là một ca khúc hân hoan hát lên niềm vui thoát cảnh lưu đày và trở về quê hương đất hứa. Tác giả nghĩ tới thời kỳ mà "Lòng từ bi và chân lý sẽ gặp nhau, công lý và hòa bình sẽ hôn nhau".
 
Phụng vụ Hội Thánh lặp lại những lời ca đầy tràn hy vọng ấy và cầu xin cho thời ấy mau đến: "Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng tôi và ban ơn cứu rỗi cho chúng tôi".
 
3. Bài đọc II: 2 Pr 3, 9-14
Lá thư được gọi là thư thứ hai Phêrô thực ra không phải do Thánh Phêrô viết, mà do một người mượn danh ngài viết ra, vào khoảng cuối thế kỷ I.
 
Hoàn cảnh và lý do: Vào cuối thế kỷ I, các kitô hữu không mấy tin vào việc Chúa lại đến, từ đó họ cũng chẳng thiết tha gì đến việc dọn đường cho Ngài.
 
Do thời gian chờ đợi hơi lâu nên nhiều người nản lòng. Nhưng tác giả giải thích rằng sở dĩ Chúa chậm đến là vì Ngài nhẫn nại, ban thêm thời gian cho những người tội lỗi có dịp sám hối. Tác giả khẳng định lại rằng chắc chắn Chúa sẽ lại đến. Và khi đó sẽ là "trời mới đất mới". "Vì vậy, anh em càng phải sống thánh thiện và đạo đức biết bao khi mong chờ ngày Chúa đến".
 
4. Tin Mừng:  Mc 1, 1-8
Tất cả những niềm hy vọng ấy của Cựu Ước được thực hiện nơi Ðức Giêsu. Ngài chính là Ðấng Messia. Ngài sắp đến. Bởi thế, Thiên Chúa đã sai Gioan Tẩy giả làm tiên hô dọn đường cho Ngài, thực hiện lời kêu gọi của Isaia ngày xưa.
 
Việc Ðức Giêsu là Ðấng Messia và Ngài sắp đến là một tin rất quan trọng sẽ mang lại niềm vui cho dân Do Thái, bởi vì họ đã chờ đợi điều này từ rất lâu. Bởi thế, ngay từ câu đầu tiên của đoạn này và cũng là của cả quyển sách, thánh Mác cô đã dùng từ "Tin Mừng": "Khởi đầu Tin Mừng Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa".
 
Ðấng Messia là một nhân vật quan trọng mà Cựu Ước chờ đợi bấy lâu nay. Vì thế phải có một sứ giả đi trước để dọn đường cho Ngài. Isaia chỉ nói tới việc dọn đường và người dọn đường. Ðoạn Tin Mừng này cho biết rõ thêm: người dọn đường là Gioan Tẩy giả, và ngài kêu gọi dọn đường một cách cụ thể bằng việc sám hối và lãnh nhận phép thanh tẩy.
 
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Tấm gương của Gioan Tiền hô
Thời Cựu Ước, ngôn sứ Ðệ nhị Isaia đã kêu gọi "Hãy don đường Chúa, hãy sửa đường Chúa chúng ta trong sa mạc". Thánh Gioan Tiền hô là người thực hiện lời kêu gọi này. Ngài cũng là người làm gương cho chúng ta noi theo để thực hiện lời kêu gọi này.
a. Gioan đã đi vào sa mạc: Trong lịch sử cứu độ, sa mạc luôn là khung cảnh thuận tiện cho ân sủng hoạt động. Ở đó, Thiên Chúa đã giáo dục dân Ngài qua 40 năm của cuộc xuất hành; ở đó, Thiên Chúa đã thanh luyện dân Ngài trước khi cho họ trở lại quê hương sau khi thoát khỏi cảnh lưu đày.
Chính vì thế, Hội Thánh muốn chúng ta sống 4 tuần lễ Mùa Vọng này như sống trong sa mạc: bình tâm hơn, ăn uống đạm bạc hơn, cầu nguyện nhiều hơn và suy nghĩ nhiều hơn để biết rõ ý Chúa.
b. Gioan đã đi trước Chúa để dọn đường cho Ngài: Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy Gioan đã giúp người ta sám hối, thú tội và lãnh nhận phép thanh tẩy. Rồi khi Ðức Giêsu xuất hiện, chính Gioan giới thiệu Ngài cho dân chúng biết.
Ngày nay, Ðức Giêsu vẫn còn cần những người tiền hô, những kẻ dọn đường; Tin Mừng của Ngài vẫn còn cần những người nhiệt tình mang đến giới thiệu cho người khác.
 
* 2. "Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng"
Bài Tin Mừng được chọn đọc trong Chúa nhật II mùa vọng này đề cập đến con đường. Thánh Gioan Tiền hô bảo "Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng".
  • Con đường là một phương tiện giao thông liên lạc, nối kết hai người ở hai nơi xa cách nhau để hai người, hai nơi đó có thể đến được với nhau. Nếu không có con đường thì không đến được với nhau, hoặc nếu có con đường nhưng đường đó đã hư hỏng thì cũng không đến với nhau được.
  • Dĩ nhiên khi nói đến con đường nối kết thì không phải chỉ là con đường vật chất bằng đất, nhựa hay xi măng, không phải chỉ là con đường trên mặt đất, trên sông biển, trên vòm trời... Mà còn là những con đường tinh thần, những con đường trong lòng người. Con đường tinh thần, con đường trong lòng mới là quan trọng. Ông Nguyễn Bá Học có nói "Ðường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà chỉ vì lòng người ngại núi e sông". Con đường tình yêu cũng thế "Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua".
  • Bây giờ ta hãy trở lại với Lời rao giảng của thánh Gioan tiền hô. "Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng". Lễ Giáng sinh là dịp Chúa muốn đến với mỗi người chúng ta. Mùa vọng là mùa mỗi người chúng ta chuẩn bị để có thể đến gặp Chúa. Như vậy là cần phải có một con đường. Chúa là Chúa, ta là người phàm, tự nhiên là xa cách nhau, cần phải có một con đường để Chúa có thể qua đó mà đến với ta và ta qua đó mà đến với Chúa. Lời của Gioan Tiền Hô đặt cho ta hai câu hỏi: 1/ Ðã có con đường ấy chưa? 2/ Con đường đó có thể đi lại được hay không?
 
Œ Giữa Chúa và mỗi người chúng ta, đã có một con đường liên lạc nào hay chưa?
Chắc chắn rằng đối với một số người thì chẳng có một con đường nào nối kết họ với Chúa cả. Ðó là những người chỉ biết có làm ăn sinh sống, vui chơi, thỏa mãn mọi nhu cầu thế tục. Họ có nhiều con đường lắm, đường dẫn tới chỗ làm ăn, đường dẫn đến chỗ vui chơi, đường dẫn tới những chỗ hẹn hò yêu đương. Nhưng không có con đường nào dẫn họ đến với Chúa cả. Còn đối với chúng ta, chắc là nhiều người nghĩ rằng mình đã có sẵn con đường nối kết với Chúa rồi, đó là con đường đưa ta từ nhà mình đến nhà thờ này. Ðến nhà thờ là đến với Chúa rồi chứ gì nữa, phải không? Chưa chắc! Ðành rằng đã có con đường dẫn đến nhà thờ, nhưng con đường đó có khi trời mưa ta không đi, có khi vì bận rộn hay vì một thứ gì đó ta ham thích hơn nên ta cũng chẳng thèm đi, và có khi dù ta có đến nhà thờ ta vẫn không gặp được Chúa!
 
] Như vậy con đường phải có để Chúa và ta có thể gặp nhau là con đường gì?
Thưa là con đường cầu nguyện: đến nhà thờ mà có cầu nguyện thật sự thì mới gặp được Chúa. Khi chưa phải là Chúa nhật hay khi trở ngại không đến nhà thờ được, nhưng nếu ta có cầu nguyện riêng, cầu nguyện ở nhà, cầu nguyện trong mọi biến cố cuộc sống, thì ta vẫn gặp được Chúa. Vì thế trong những tuần Mùa vọng này, ta hãy cầu nguyện nhiều hơn, cầu nguyện sốt sắng hơn. Cầu nguyện ở nhà thờ, cầu nguyện ở nhà riêng, cầu nguyện trước những biến cố của cuộc sống. Khi đã gặp được Chúa trong cầu nguyện, Chúa sẽ chỉ dẫn tiếp cho ta biết phải làm gì để cuộc sống mình ngày càng tốt hơn.
 
] Khi mình cầu nguyện sốt sắng thì Chúa sẽ chỉ dẫn mình. Nói như vậy nghĩa là còn một con đường thứ hai nữa: đó là thực hiện thánh ý Chúa. Thánh ý Chúa rất nhiệm mầu, nhiều khi mình không hiểu và không muốn tuân theo. Nhưng luôn luôn thánh ý Chúa là con đường tốt nhất cho mỗi người chúng ta. Chỉ bằng cách đi theo con đường thánh ý Chúa, thì chúng ta mới bình an, hạnh phúc thật. Cưỡng lại thánh ý Chúa, đời mình luôn áy náy, khổ sở.
 
Chúng ta còn nhớ chuyện ông Giona không? Ý Chúa muốn ông đi đến thành Ninivê để vạch tội của dân thành ấy và bảo họ phải ăn năn sám hối. Ông thì coi việc đó là khó khăn, không thích. Nên ông cũng xuống tàu, nhưng xuống tàu để đến một thành khác, Tarsis. Trời nổi cơn giông, biển động. Các thủy thủ đã làm đủ cách, các hành khách đã khẩn cầu với đủ thứ thần linh, thế mà nguy hiểm chìm tàu vẫn không chấm dứt. Lúc đó Giona hiểu rằng tất cả chỉ vì mình đã cố tình không chịu đi theo con đường thánh ý Chúa. Người ta quăng ông xuống biển, ông bị trôi dạt ba ngày, và cuối cùng tấp vào bờ của một thành phố, chính là thành phố Ninivê mà ý Chúa đã muốn ông đi đến!
 
] Trong Mùa Vong này, mỗi người chúng ta hãy cố gắng vạch một con đường để Chúa có thể đến với mình và mình có thể đến với Chúa. Con đường đó là cầu nguyện. Hãy cầu nguyện nhiều hơn, cầu nguyện sốt sắng hơn. Khi mình cầu nguyện thì Chúa sẽ chỉ cụ thể cho mình biết phải làm gì cụ thể hơn nữa trong Mùa vọng này. Ðó chính là thánh ý Chúa, hãy cố gắng làm theo sự hướng dẫn của ý Chúa, vì chỉ có làm theo Thánh ý Chúa thì đời mình mới tốt hơn, tâm hồn mình mới bình an vui sướng thật sự.
 
 Còn vấn đề thứ hai nữa: Ðã có con đường nối kết ta với Chúa rồi. Ðó là cầu nguyện và theo ý Chúa. Nhưng con đường đó có trở ngại đến nỗi không đi lại được hay không? Dĩ nhiên là có nhiều trở ngại lắm: Nói đến cầu nguyện là tự nhiên ta ngán, ta không quen. Nói đến thánh ý Chúa thì tự nhiên ta cũng ngại, ta muốn làm theo ý riêng mình hơn. Ðó là những trở ngại. Nói theo từ ngữ của Gioan Tiền hô, đó là những chỗ lồi lõm, quanh co, gập ghềnh trên con đường nối kết ta với Chúa. Nhưng xét cho cùng chẳng có trở ngại nào mà ta không thể vượt qua, trừ trở ngại trong chính lòng ta. "Ðường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông". Nếu cứ ngại như thế mãi thì ta sẽ không gặp được Chúa. Mùa vọng này sẽ qua đi. Lễ Giáng sinh năm nay sẽ trôi đi, cuộc đời của ta thì vẫn chẳng có gì thay đổi tốt hơn. Vì thế ta phải vượt qua mọi e ngại, chiến thắng khuynh hướng ươn lười để suốt mùa Vọng này siêng năng cầu nguyện sốt sắng và tìm hiểu để thực hành thánh ý Chúa. Có như vậy Mùa Vọng này mới hữu ích thực sự và lễ Giáng sinh năm nay mới là dịp Chúa ban tràn trề ơn sủng cho cuộc đời mỗi người chúng ta.
 
* 3. Chúa sắp đến. Nhưng có phải vậy không?
Có lẽ tâm trạng chúng ta hôm nay cũng giống tâm trạng các tín hữu thế kỷ I mà bài Thánh thư hôm nay nói tới: Một mặt nghe dạy rằng Chúa sẽ lại đến nên cần phải dọn đường cho Chúa. Nhưng mặt khác chờ mãi mà không thấy Chúa đến, nên ngã lòng buông xuôi. Ðức tin, đức cậy và đức mến nguội lạnh dần theo thời gian.
 
Ngược lại, ngày nay có một vài nhóm người tin chắc rằng Chúa sắp đến. Họ giải thích Sách Thánh theo một kiểu nào đó rồi đi đến kết luận rằng sắp tới ngày tận thế. Họ còn dám khẳng định chắc chắn tận thế sẽ là ngày mấy tháng mấy năm mấy nữa!
 
Ta nên xem lại các bài Thánh Thư hôm nay.
  • Tác giả viết rằng sẽ có ngày mà trời và đất sẽ bị huỷ diệt: "Các tầng trời qua đi, ngũ hành bị thiêu rụi, trái đất cùng mọi công trình kiến tạo đều bị thiêu huỷ". Nhưng đồng thời tác giả cũng loan báo rằng sẽ có "trời mới đất mới". Như thế là có hai thứ "trời đất": thứ trời đất xấu xa tội lỗi sẽ bị tận diệt (tận thế), còn thứ trời đất tốt lành sẽ lên ngôi (tạo dựng mới). Tác giả đã dùng loại văn thể khải huyền với nhiều hình ảnh nhằm gây xúc động. Chúng ta không nên hiểu những hình ảnh này theo nghĩa đen mà chỉ cần nắm ý tác giả là sẽ có một sự thay đổi lớn lao: sự dữ bị tận diệt và sự thiện lên ngôi. Có thể nói, đó là lúc Chúa đến.
  • Nhưng không ai có thể xác định ngày tháng cho biến cố đó, vì "Chúa đến như kẻ trộm" (câu 10. Xem thêm Mt 24, 43-44), nghĩa là rất bất ngờ. Hơn nữa, không phải Chúa chỉ đến trong ngày tận thế, mà Ngài còn đến rất nhiều lần, đến với từng người, đến để tạo dựng trời mới đất mới trong lòng người đó.
  • Vì thế tác giả đưa lời khuyên về cách sống trong khi chờ ngày Chúa đến: Nếu Chúa chưa đến là do Ngài muốn ban thêm cho chúng ta thời gian để chúng ta lo ăn năn sám hối hầu tránh khỏi bị phạt khi Ngài đến thật; Vậy trong thời gian hiện tại chúng ta hãy lo sám hối ăn năn và cố gắng sống thánh thiện đạo đức.
Ðó cũng là điều mà Hội Thánh kêu gọi chúng ta trong Mùa Vọng này.
 
* 4. Chuẩn bị đón Chúa
Pat William có kể một câu chuyện rất đặc sắc trong cuốn The Power Within You như sau:
Cordell Brown, một bệnh nhân bị chứng liệt não, đến câu lạc bộ Quán Quân Thế Giới Philadelphia Phillies. Anh bước đi khó khăn, nói năng ấp úng, nên khi anh tới, các thành viên quay mặt đi như không nhìn thấy. Anh có thể nói gì với những siêu minh tinh màn bạc Steve Carleton, hoặc như Mike Schmit, những kẻ sống rất phong lưu ngàn lần cách xa anh?
 
Tuy không được đón tiếp nhiệt tình, anh vẫn nói: "Tôi biết rằng tôi rất khác biệt với các bạn, 'nhưng nhờ ơn Chúa mà tôi được như thế này'" (1Cr. 15, 10). Và anh thao thao bất tuyệt nói về lòng nhân hậu của Thiên Chúa đã tuôn đổ phúc lộc xuống trên cuộc đời anh. Anh mạnh mẽ xác quyết: "Các bạn có thể thành công suốt cả cuộc đời, lãnh cả triệu đôla mỗi năm, nhưng khi ngày giờ đến, ngày mà người ta đóng nắp quan tài của các bạn lại, thì các bạn cũng như tôi. Mọi người đều như nhau. Tôi không cần những gì các bạn đang có, nhưng tôi chắc chắn rằng các bạn cần một điều mà tôi luôn có, đó là Ðức Giêsu Kitô".
YYY
 
Suốt chiều dài lịch sử Cựu Ước, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho con người đón tiếp Ðức Kitô. Và khi đến thời gian đã định, Thiên Chúa dùng Gioan Tiền Hô, một tiên tri vĩ đại gạch nối giữa Cựu và Tân ước để chuẩn bị cho Ðấng Cứu Thế: "Có tiếng kêu trong hoang địa: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng" (Mc. 1, 3).
 
Gioan không làm cách mạng, ngài không bắt người ta phải thay đổi cuộc sống, thay đổi địa vị xã hội, cho dù là thu thuế hay binh lính, hai hạng người mà thời bấy giờ bị coi khinh và xem thường. Nhưng Gioan chỉ nhắc nhở, thúc giục mọi người hãy cải thiện đời sống, đổi mới tâm hồn để sẵn sàng chờ đón Chúa đến.
 
Ðể gặp gỡ Ðức Kitô, chúng ta không thể làm gì khác Gioan, sống khó nghèo và đơn sơ trong cách ăn mặc và lối sống.
Ðể gặp gỡ Ðức Kitô, chúng ta không thể sống buông thả, theo tính khoe khoang và tự mãn.
 
Ðể gặp gỡ Ðức Kitô, chúng ta không thể không học nơi Gioan lòng khiêm nhường, luôn qui hướng mọi vinh quang về cho Chúa.
 
Chính nhờ có Ðức Kitô mà Cordell Brown trong câu chuyện trên đây cảm thấy hạnh phúc tràn đầy. Hạnh phúc ấy chỉ có được bằng giá của sự từ bỏ liên tục. Ludovic Giraud đã viết: "Sống không phải chấp nhận tất cả, mà là chọn lựa, là cắt bỏ, là hy sinh. Nhựa cây chỉ dẫn đến cành khi được cắt tỉa và nó chỉ sống được khi ngành cây tầm gởi không bóp nghẹt nó".
 
Mùa Vọng là thời gian của hy vọng. Con thuyền hy vọng của người tín hữu Kitô luôn chất đầy tin tưởng và phó thác:
  • Tin tưởng Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về con người, nên chúng ta cũng đừng thất vọng về chính mình.
  • Phó thác cho Thiên Chúa Tình yêu, nên dù tội lỗi có ngập tràn, khổ đau có chồng chất, chúng ta vẫn một niềm cậy trông.
Tin tưởng và phó thác là đôi mắt của người tín hữu nhìn thẳng vào Chúa mà hy sinh và từ bỏ.
YYY
Lạy Chúa, xin giúp chúng con chuẩn bị đón Chúa với thái độ của người lữ hành trong sa mạc: dẹp đi những cồng kềnh vướng bận. Xin cho chúng con biết khổ chế nơi thân xác và chay tịnh trong cõi lòng, cho tâm hồn chúng con được thanh thoát, đón mừng Chúa đến ban nguồn vui Ơn Cứu độ. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
 
* 5. Ðừng tưởng
Những người thuộc phái Pharisêu và Sađóc là những thành phần đạo đức và sốt sắng nhất thời đó. Bởi thế họ nghĩ rằng cho dù ai đó có bị mất phần rỗi thì họ vẫn chắc chắn sẽ được cứu rỗi thôi. Nhưng Gioan bảo họ: "Ðừng tưởng thế... Hãy sinh hoa kết quả"
 
Chúng ta tuy không đạo đức sốt sắng như những người pharisêu và sađóc, nhưng chúng ta không bỏ lễ Chúa nhựt nào, không bỏ kinh hôm kinh mai ngày nào, không phạm tội trọng nào cả. Thế thì chúng ta cũng có thể được hưởng ơn cứu độ chứ. Gioan cũng nhắc chúng ta "Ðừng tưởng thế". Một cái cây sum xuê lá cành mà không sinh hoa kết quả thì cũng vô ích và phải bị chặt đi thôi!
 
6. Hãy an tâm, hãy an tâm!
Trong số biết bao lời trong Thánh Kinh, chắc hẳn đây là một trong những lời dễ nghe chịu nhất: "Hãy an tâm, hãy an tâm! Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá, Chúa đã ban ơn nhiều gấp hai lần tội lỗi".
 
Thực ra, lời ngọt ngào này Thiên Chúa không chỉ nói một lần duy nhất qua miệng ngôn sứ Ðệ nhị Isaia. Ngài đã nói thế không biết là bao nhiêu lần bằng những lời lẽ khác. Hãy đọc lại những chương đầu của sách Sáng thế, ta sẽ thấy rằng sau mỗi lần con người phạm tội và bị phạt thì Thiên Chúa đều tỏ một cử chỉ yêu thương: mặc áo cho hai nguyên tổ đang xấu hỗ vì trần truồng, ghi dấu trên trán Cain để bảo vệ anh, tự tay đóng cửa chiếc tàu Noê trước khi cơn hồng thuỷ ập xuống... Hãy nhìn lại dòng lịch sử cứu độ, ta lại thấy lịch sử cứu độ là một lịch sử tha thứ: con người phạm tội không biết là bao nhiêu lần, và Thiên Chúa vẫn rộng lượng tha thứ không biết là bao nhiêu lần.
 
Ðức Giêsu đến trần gian cũng chỉ để nói lên lời ngọt ngào đó. Hãy đọc lại Tân Ước và đếm xem bao nhiêu lần Ðức Giêsu bảo người ta "Ðừng sợ", bao nhiều lần Ngài âu yếm nói "Tội con đã được tha". Khi muốn mượn một hình ảnh để giúp người ta hiểu về mình, Ðức Giêsu đã ví mình như một mục tử lặn lội đi tìm con chiên lạc và khi tìm được rồi thì trìu mến ẵm chiên trong lòng...
 
Bởi thế, thông tin về việc Ngài đến chính là một Tin Mừng.
Chúng ta hãy làm theo lời kêu gọi của Isaia trong bài đọc I hôm nay: "Hỡi những kẻ đưa Tin Mừng, hãy trèo lên núi cao, hãy mạnh dạn cất tiếng, hãy nói cho các dân rằng: Ðây Chúa là Thiên Chúa sẽ đến!".
 
7. Tiếng kêu trong hoang địa
Tiếng của Gioan Tẩy giả là một tiếng kêu trong hoang địa, nhiều người không nghe thấy.
 
Ngày nay cũng có nhiều tiếng kêu trong hoang địa:
  • Hiện giờ ở đâu đó một đứa trẻ đang kêu. Em cần tình thương, hay đơn giản hơn chỉ là một miếng bánh.
  • Hiện giờ ở đâu đó một người trẻ đang kêu. Anh cần một đôi tai lắng nghe, hoặc một con tim thông cảm.
  • Hiện giờ ở đâu đó một người già đang kêu. Ông cần ai đó đến thăm, hoặc con cái nói một lời.
Hàng ngàn hàng vạn tiếng kêu đang vang lên nhưng không ai nghe thấy trong thế giới bất công này.
 
Lạy Chúa, xin giúp con lắng nghe những tiếng kêu trong hoang địa. Nhất là xin giúp con nghe được tiếng Chúa, đang thì thầm trong hoang địa của lòng chúng con. (Viết theo Flor McCarthy)
 
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế: Anh chị em thân mến, hôm nay Chúa nhật thứ 2 Mùa Vọng, Hội thánh mời gọi mọi người hãy dọn đường cho Chúa đến, sửa lối cho thẳng để Người đi. Chúa đến là một hồng ân cho mỗi người. Chúng ta hãy thành tâm khẩn nguyện:
 
1. Hội thánh được sai đi để dọn đường cho Chúa đến với mọi người / chúng ta cầu xin Chúa cho mọi người trong Hội thánh biết noi gương thánh Gioan tẩy giả / để dọn đường sửa lối cho Chúa đến.
2. Thế giới còn đầy những bất công chia rẽ / nhiều nơi còn đang chiến tranh, đói khát / chúng ta cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền biết cai trị theo công lý, hòa bình và tình huynh đệ / để dọn đường cho Chúa đến với mọi người.
3. Chung quanh chúng ta còn nhiều người nghèo đói, thất nghiệp, bệnh tật, không ai quan tâm giúp đỡ / chúng ta cầu xin Chúa cho họ biết kiên nhẫn và can đảm / để mong chờ và hy vọng Chúa đến giúp đỡ họ.
4. Trong hoàn cảnh khó khăn còn phải lo âu nhiều cho cuộc sống hằng ngày / chúng ta cầu xin Chúa cho anh chị em trong họ đạo chúng ta / đừng vì thế mà dửng dưng với việc dọn đường sửa lối cho Chúa đến.
 
Chủ tế: Lạy Ðức Giêsu, Chúa đến để đem hạnh phúc thật cho mọi người chúng con. Xin Chúa giúp chúng con dẹp bỏ mọi cản trở trên đường Chúa đến, bằng lòng ăn năn sám hối mọi tội lỗi, để được Chúa viếng thăm. Chúa là Ðấng hằng sống và hiển trị muôn đời.
 
Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái
 
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG – A
Lm   Ignatiô Hồ Thông
Cả  ba bài đọc của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật II Mùa Vọng đều được định vị trong viễn cảnh của việc Thiên Chúa can thiệp vào trong Lịch Sử loài người.
Is 40: 1-5, 9-11
Thiên Chúa truyền cho ngôn sứ I-sai-a đệ nhị  hãy an ủi dân Ngài trong cảnh cùng khốn và loan báo cuộc giải thoát gần kề.
2Pr 3: 8-14
Thánh Phê-rô nhắc nhở rằng không phải Thiên Chúa lỗi hẹn, nhưng vì lòng thương xót mà Ngài trì hoản để chúng ta có đủ thời giờ lập công tích đức trong khi chờ đợi trời mới và đất mới mà Chúa đã hứa cho chúng ta.
Mc 1: 1-8
Gioan Tẩy Giả, vị sứ giả được Thiên Chúa sai đi để dọn đường cho Đức Giê-su, Ngài là Đấng Ki-tô và là Con Thiên Chúa.
 
BÀI  ĐỌC I:   Is 40: 1-5, 9-11
Chúa Nhật vừa qua, chúng ta đã đọc bản văn của ngôn sứ I-sai-a thời hậu lưu đày, được gọi là I-sai-a đệ tam: dân Do thái đã được cứu thoát khỏi cảnh lưu đày, đã trở về quê cha đất tổ và đang nổ lực tái thiết đất nước. Trong Chúa Nhật nầy, bài đọc I, được trích từ tác phẩm của ngôn sứ thời lưu đày. Bản văn này đưa chúng ta đi ngược về quá khứ: thời kỳ dân Do thái vẫn còn bị lưu đày ở Ba-by-lon vào những năm 550-539, cuộc giải thoát chưa xảy đến.
 
Vị  ngôn sứ thời lưu đày nầy không ngừng đem đến những lời an ủi lớn lao cho đồng bào của mình. Thế nên, tác phẩm của ông được gọi “sách An Ủi” (Is 40-55). Chúng ta không biết gì về vị ngôn sứ thời lưu đày nầy. Ông thường hằng ẩn mình sau sứ điệp của mình, như bản văn hôm nay cho thấy. Ngay từ đầu, vị ngôn sứ ẩn mình trong “lời Thiên Chúa phán”; đoạn, trong “một tiếng kêu” mà không xác định; và sau cùng, trong “một sứ giả báo tin mừng”. Vị ngôn sứ nầy thường được gọi I-sai-a đệ nhị, vì ông thuộc vào hàng những môn đệ đầu tiên của ngôn sứ I-sai-a đệ nhất, và tác phẩm của ông đã được tập hợp chung với tác phẩm của thầy mình.
 
1. “Hãy an ủi dân Ta”: 
“Hãy an ủi, an ủi dân Ta!”, đó là lệnh truyền mà Thiên Chúa gởi đến cho vị ngôn sứ của Ngài trong khi dân Do thái đang sống kiếp lưu đày vô vọng.
 
“Dân Ta”, lời khẳng định nầy chắc chắn đã làm ấm lòng của những người lưu đày, họ nghĩ rằng Thiên Chúa đã quên họ, không còn đoái hoài đến số phận bi thương của họ. Không, họ luôn luôn là “dân của Ngài”, dân Chúa chọn mà xưa kia được Thiên Chúa nâng niu chiều chuộng. Cung giọng đầy trìu mến được cất lên ở cuối bài thơ trong hình ảnh người mục tử tận tình săn sóc đàn chiên của mình, nhất là những con chiên bé bỏng.
 
“Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giê-ru-sa-lem”. Dân thành đã bị trừng phạt vì tội bất trung lâu dài của mình, đây là lần đầu tiên được Thiên Chúa loan báo là Ngài thứ tha tội vạ của dân và cho họ được hồi hương trở về quê cha đất tổ. Sứ điệp tràn đầy hy vọng.
 
2. Thời kỳ Thiên Chúa tha thứ:
“Thời phục dịch của thành đã mãn”. Chúng ta gặp lại hình ảnh nầy trong các đoạn văn Cựu Ước khác như G 7: 1: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao?” . Hình ảnh này được dùng ở đây để diễn tả thời kỳ gian khổ cùng cực.
 
“Thành đã bị tay Chúa giáng phạt gấp hai so với tội phạm”. Chúng ta có thể hiểu diễn ngữ “gấp hai” nếu chúng ta khảo sát hai thử thách lớn lao mà dân phải gánh chịu: một mặt, cuộc lưu đày ở Ba-by-lon và mặt khác, cuộc tàn phá Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Nhưng diễn ngữ nầy đơn giản muốn nói đến muôn vàn khổ đau mà dân phải chịu.
 
Ghi nhận quan trọng nầy sẽ xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị và  gợi lên nguồn cảm hứng cho các bài thơ về “Người Tôi Tớ đau khổ”. Dân Chúa chọn, người tôi tớ Thiên Chúa, đã kinh qua một sự thử thách thanh tẩy. Quả thật, sự tha thứ của Thiên Chúa thì nhưng không. Tuy nhiên, qua những đau khổ dài lâu mà dân phải chịu, cũng như qua việc Thiên Chúa biểu lộ vinh quang của Ngài bằng việc cứu thoát dân, những người lưu đày sẽ bày tỏ cho muôn dân thấy “Thiên Chúa phán như thế nào, Ngài sẽ thực hiện đúng như vậy”.
 
Đó là ơn gọi của dân Ít-ra-en, với tư cách là người tôi tớ Đức Chúa: chuẩn bị những nẻo đường cứu độ cho muôn dân. Chúng ta thoáng thấy ươm mầm ý tưởng về giá trị của những đau khổ mà những người công chính, nhóm kiên trung còn sót lại phải chịu để công chính hóa mọi người. Nhóm còn sót lại này, một ngày kia sẽ là “Người Tôi Tớ hoàn hảo”, chính là Đức Ki tô.
 
3. “Hãy mở một con đường cho Chúa”:   
Để trở về quê cha đất tổ, đoàn người lưu đày sẽ phải băng qua hoang địa. Họ phải đặt trọn niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng sẽ ở bên cạnh dân Ngài và đích thân dẫn dắt dân Ngài. Sứ giả hô lớn: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Chúa; giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Chúa chúng ta”.
 
Cuộc hành trình băng qua hoang địa dưới sự che chỡ và hướng dẫn của Thiên Chúa, viễn cảnh nầy gợi lên rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những điềm thiêng dấu lạ cho những tù nhân Ba-by-lon, như xưa kia Ngài đã thực hiện cho cha ông họ: giải thoát họ ra khỏi cảnh đời nô dịch ở bên Ai-cập và dẫn đưa họ về miền Đất Hứa. Cuộc Tân Xuất Hành này sẽ bày tỏ vinh quang Thiên Chúa, qua đó muôn dân sẽ hiểu rằng “chính miệng Thiên Chúa đã phán như vậy”, nghĩa là Thiên Chúa trung thành với những gì Ngài đã hứa, Ngài sẽ thực hiện những dự định của Ngài. Dân Ít-ra-en sẽ là chứng nhân về ơn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa: “Mọi người phàm sẽ cùng được thấy”.
4. “Loan tin mừng”:
“Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao…”. Chính ở nơi bản văn nầy mà những Ki-tô hữu tiên khởi đã mượn thuật ngữ “Tin Mừng” để chỉ Mặc Khải Đức Giê-su Ki-tô mang đến. Vì thế, chúng ta ở tận nguồn của thần học về “Tin Mừng” .
 
Ấy vậy, “Tin Mừng” nầy phải được lớn tiếng công bố từ trên đỉnh non cao để khắp các thành xứ Giu-đa có thể nghe được là gì? Đó là Thiên Chúa đích thân đến cứu dân Ngài, giải thoát những kẻ bị giam cầm, dẫn đưa họ về quê hương đích thật của mình. Ngài không còn dung thứ những điều gian ác mà dân Ngài phải chịu.  
 
Vị  ngôn sứ tưởng tượng cuộc hồi hương về Giê-ru-sa-lem như một đám rước khải hoàn. Nhưng ông tô đậm chân dung vị lãnh đạo toàn thắng qua hình ảnh người mục tử ân cần trìu mến đối với đàn chiên của mình. Thiên Chúa tha thứ và dẫn đưa dân Ngài trở về miền Đất Hứa trước hết là vị Thiên Chúa Tình Yêu.
 
Đó là hình thức đầu tiên của Tin Mừng, tiên báo một cuộc giải thoát khác, một sự tha thứ có tính quyết định hơn và phổ quát hơn, và cũng tiên báo một đám rước khải hoàn khác: đám rước của những người được tuyển chọn về thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc.
 
BÀI  ĐỌC II:   2Pr 3: 8-14
Ngay đầu thư, thánh Phê-rô tự giới thiệu mình: “Tôi là Si-mê-ôn Phê-rô, tôi tớ và Tông Đồ của Đức Giê-su Ki-tô…”. Bức thư chắc chắn chứa đựng những lời căn dặn sau cùng của thánh nhân (ngài gợi lên cái chết gần kề của mình). Tuy nhiên, xem ra đây là một di cảo, được một trong số các môn đệ của thánh nhân biên soạn lại và bổ sung để đương đầu với những hoàn cảnh mới.
 
Quả  thật, những đề tài được đề cập đến trong đoạn trích hôm nay sẽ được hiểu tốt hơn, nếu như chúng được đặt vào trong bối cảnh muộn thời hơn. Thế hệ của các Tông Đồ và của những môn đệ truyền chân đã qua. Ấy vậy, Đức Ki tô đã hứa là Ngài sẽ trở lại, nhưng thế hệ Ki-tô hữu hậu Tông Đồ chờ mãi vẫn không thấy ngày Chúa trở lại. Vì thế, họ ngạc nhiên, phản kháng và ngờ vực.
 
Để trả lời cho vấn nạn nầy, một cộng tác viên của thánh Phê-rô đưa ra ba luận chứng:
 
1. Khái niệm thời gian:
Thời gian là của Chúa chứ không của chúng ta. Tác giả trích dẫn thích đáng Tv 90: “Đối với Chúa, một ngày như thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày”.
 
2. Thiên Chúa trì hoãn vì lòng xót thương:
Đức Ki-tô đến chậm vì để cho mọi người có thời gian ăn năn hối cải. Chúng ta cũng gặp lại suy tư nầy của thánh Phao-lô trong thư gởi các tín hữu Rô-ma (11: 25)
 
3. Thiên Chúa trung tín với những gì Ngài đã hứa:
Việc  Ngài trở lại là điều chắc chắn. Nhưng lúc đó là ngày tận cùng của thế giới (tại sao phải hối thúc chứ?). Tác giả bức thư gợi lên ngày ấy bằng những hình ảnh quen thuộc của truyền thống khải huyền.
 
Đoạn ông khéo léo kết luận: bởi vì Thiên Chúa sẽ canh tân mọi sự cho những ai được Ngài tuyển chọn, thế nên, “trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải nên tinh tuyền, không gì đáng trách, để được bình an trước mặt Chúa”.
 
TIN MỪNG:   Mc 1: 1-8
Đoạn Tin Mừng hôm nay là phần mở đầu của sách Tin Mừng theo thánh Mác-cô được cấu trúc như sau:
1. Nhan đề (1: 1)
2. Sứ mạng Gioan Tẩy Giả (1: 2-8)           
       2.1- Chứng từ của các ngôn sứ (1: 2-3)           
2.2- Hoạt động và lối sống của Gioan Tẩy giả
      (1:4-6)            
     2.3- Chứng từ của Gioan Tẩy giả (1: 7-8).
 
1. Nhan đề (1: 1).
Sách Tin Mừng Mác-cô không mở đầu với Tựa Ngôn như  sách Tin Mừng Gioan, cũng không cuộc đời Thơ Ấu của Đức Giê-su như sách Tin Mừng Mát-thêu và sách Tin Mừng Lu-ca, nhưng với một nhan đề: “Khởi đầu Tin Mừng về Đức Giê-su, Đấng Ki tô, Con Thiên Chúa”. Với nhan đề nầy, ngay từ đầu, thánh Mác-cô loan báo sách được chia thành hai phần:
  • Phần thứ nhất (1: 2-8: 30): Đức Giê-su dần dần vén mở sứ mạng của mình: Ngài là “Đấng Ki-tô”. “Đấng Ki-tô” được phiên âm từ từ Hy lạp “Christos”, xuất xứ từ nguyên ngữ Do thái “Đấng Mê-si-a”, nghĩa là Đấng được Thiên Chúa xức dầu và đặc phái đến để thiết lập Vương Quốc của Ngài vào thời cánh chung. Như vậy, trong phần thứ nhất, thánh Mác-cô muốn dẫn đưa độc giả của mình cùng với thánh Phê-rô và các môn đệ đến chỗ nhận biết và tuyên xưng Đức Giê-su là “Đấng Ki-tô” (8: 29). Nhưng vào thời Đức Giê-su, tước hiệu “Đấng Ki-tô” rất dể ngộ nhận. Dân Do thái sau một thời gian dài bị đế quốc nầy đến đế quốc khác thống trị và áp bức, nên mong chờ một vị vua trần thế được Thiên Chúa ban quyền năng để đánh đông dẹp tây, mở rộng vương quyền và đem lại cảnh thái bình thịnh trị cho dân tộc mình.
  • Phần hai (8: 31-16: 20): Đấng Ki-tô bày tỏ cho các môn đệ chân tính của Ngài là “Con Thiên Chúa”. Danh xưng nầy cũng là một trong những tước hiệu của Đấng Mê-si-a. Các vua Phương Đông thời xưa cũng thường tự xưng mình là “thiên tử”. Nhưng Đức Giê-su dần dần bộc lộ cho thấy mối tương quan thân tình đặc biệt và độc nhất vô nhị với Thiên Chúa, mà Ngài gọi là Cha của mình. Chính Ngài công bố long trọng tước hiệu này trước vị thượng tế (14: 61-62). Các môn đệ phải qua một thời gian dài mới khám phá ra nơi bản thân Chúa Giê-su chính là Thiên Chúa đến sống giữa con người và nhờ cuộc Tử Nạn và Phục sinh của mình, Ngài giải thoát loài người khỏi quyền lực Sự Dữ và Cái Chết. Trong phần thứ hai nầy, Mác-cô muốn dẫn đưa độc giả của mình tới lời tuyên xưng đức tin sâu sắc hơn, được thốt ra từ miệng viên sĩ quan Rô-ma, dưới chân thập giá: “Quả thật, người nầy là Con Thiên Chúa” (15: 39).
 
Như  vậy, với nhan đề nầy cho toàn bộ sách Tin Mừng của mình, thánh Mác-cô xác định rất rõ rằng sách không kể cho chúng ta “tiểu sử cuộc đời” của Đức Giê-su, nhưng là một “Tin Mừng” về ơn cứu độ loài người được thể hiện cách độc đáo nơi bản thân Đức Giê-su quê Na-da-rét, Ngài là “Đấng Ki-tô” và là “Con Thiên Chúa” qua cái mâu thuẫn của thập giá. Chính Đức Giê-su là “Chúa” đến viếng thăm dân Ngài, không phải trong quyền uy xét xử, nhưng trong cái yếu hèn của một tình yêu được trao tặng.
2. Sứ vụ của Gioan Tẩy giả  (1: 2-8):
Nhưng đây cũng là nhan đề cho phần dẫn nhập (1: 1-15) được phân định bởi cách thức đóng khung rất quen thuộc của lối hành văn Do thái, bắt đầu với chữ “Tin Mừng” ở câu 1 và kết thúc với chữ “Tin Mừng” ở câu 15. Thuật ngữ “Tin Mừng” xuất xứ từ sách I-sai-a (Is 40: 9; 52: 7; 61: 1..) được dùng ở đây để loan báo một biến cố vui mừng có một tầm mức quan trọng bậc nhất, đó là Đức Giê-su, Ngài là Đấng Ki-tô và là Con Thiên Chúa.
 
Trong phần dẫn nhập nầy, sứ vụ của Gioan Tẩy giả, người đi trước dọn đường cho Đức Giê-su. Theo cách thức nầy, Tin Mừng Mác-cô trung thành với sơ đồ của lời rao giảng tông đồ như được gặp thấy trong sách Công Vụ (1: 21t; 10: 37; 13: 24). Trong bộ Kinh Thánh, sách Sáng Thế cũng mở đầu với diễn ngữ: “Khởi đầu”. Gioan Tẩy Giả loan báo Tin Mừng về Đức Giê-su, là Đấng Ki-tô và là Con Thiên Chúa, Ngài đến để đánh dấu một khởi đầu tận căn, một khởi nguyên mới, kỷ nguyên cứu độ.
 
2.1- Chứng từ của các ngôn sứ (1: 2):
Ngay từ những hàng đầu tiên, thánh Mác-cô nêu bật hai điểm khác biệt với các thánh ký khác. Trước tiên, các thánh ký nầy cũng đều trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a: “Có một tiếng kêu trong hoang địa…” nhưng sau khi đã nêu lên sứ vụ của Gioan Tẩy giả (x. Mt 3: 3; Lc 3: 4; Ga 1: 23). Thứ đến, trước khi trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a, thánh Mác-cô trích dẫn một sấm ngôn khác: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước Con, để dọn đường cho Con đến”, sấm ngôn này được đúc kết bởi hai bản văn Cựu Ước khác nhau: Xh 23: 20 và Ml 3: 1.
 
Trong Xh 23: 20, Thiên Chúa nói với ông Mô-sê: “Nầy Ta sai sứ thần đi trước con, để gìn giữ con khi đi đường…”. Ngôn sứ Ma-la-khi lập lại lời nầy nhưng với một ‎ý nghĩa mới: “Nầy Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta”. Trong sấm ngôn của Ml 3: 1, Thiên Chúa sai “sứ giả” của Ngài đến trước dọn đường để “Ngài đích thân đến với dân Ngài”. Thật ra, thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca cũng trích dẫn sấm ngôn nầy, nhưng trong một bối cảnh khác và được đặt trên môi miệng của Đức Giê-su (Mt 11: 10; Lc 7: 27).
 
Vị  sứ giả trong sấm ngôn nầy là ai? Chúng ta gặp thấy căn tính của vị sứ giả nầy ở Ml 3: 23 sau đó: “Nầy Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi, trước khi Ngày của Đức Chúa đến, ngày trọng đại và huy hoàng”. Trong 2V 2: 11, ngôn sứ Ê-li-a không chết nhưng được rước về trời trong một cỗ xe đỏ như lửa với những con ngựa kéo cũng đỏ như lửa. Vì thế, theo truyền thống Do thái mãi cho đến thời Chúa Giê-su, vị sứ giả Ê-li-a sẽ trở lại để dọn đường cho Chúa đến..
 
Sấm ngôn thứ hai được trích dẫn từ Is 40: 3 (bài đọc I): “Có một tiếng hô: Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta”. Vị ngôn sứ loan báo cho những những người lưu đày ở Ba-by-lon biết rằng Thiên Chúa sắp can thiệp để giải thoát họ khỏi kiếp sống tù đày. Các tác giả Tin Mừng cũng đã thấy ở nơi “tiếng hô nầy” tiên báo Gioan Tẩy Giả, vị tiền hô của Đức Giê-su, ông có sứ mạng đến trước để dọn đường cho Đức Giê-su đến. Ở nơi lệnh truyền nầy: thung lũng sẽ được lấp đầy, núi đồi sẽ phải bạt xuống, chúng ta gặp thấy cũng một lời dạy như Gioan Tẩy Giả: phải thay lòng đổi dạ, biến đổi sa mạc tâm hồn thành miền đất thấm đẩm thiên ân, hủy bỏ những quanh co uốn khúc của sự gian tà.
 
Theo phương cách trích dẫn phổ biến vào thời đó, thánh Mác-cô gán toàn bộ lời trích dẫn nầy cho ngôn sứ I-sai-a, bởi vì chúng có chung một đề tài: “dọn đường để đón tiếp Thiên Chúa”. Như vậy, khi khai mạc sứ vụ của Gioan Tẩy giả bằng lời trích dẫn nầy, thánh Mác-cô muốn cho thấy rằng việc Đức Giê-su đến đã được Cha Ngài chuẩn bị trước đó rồi và ơn gọi của Gioan Tẩy giả, vị Tiền Hô của Con Ngài, được dự kiến lâu lắm rồi trong kế hoạch của Thiên Chúa. Chính Gioan Tẩy giả là ngôn sứ Ê-li-a, mà truyền thống Do thái mong đợi, trở lại để dọn đường cho Chúa và việc ông xuất hiện cho thấy Thiên Chúa vẫn trung thành với những gì Ngài đã hứa. Thời gian đã đến hồi viên mãn.
 
2.2- Hoạt động và lối sống của Gioan Tẩy giả  (1: 3-6).
Chúng ta lưu ý rằng khi trích dẫn sấm ngôn I-sai-a, thánh Mác-cô đã tự ý ngắt câu cho phù hợp với hoàn cảnh hiện nay của Gioan Tẩy Giả. Thay vì “Có tiếng hô: Trong sa mạc…”, thánh ký đổi thành “Có tiếng người hô trong hoang địa…”. Quả thật, Gioan Tẩy giả đã ẩn cư trong hoang địa ngay từ thuở thanh xuân để chuẩn bị sứ mạng của mình trong thinh lặng và chiêm niệm cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en (Lc 1: 80), như Đức Giê-su sẽ rút vào trong sa mạc trước khi khởi đầu sứ mạng của mình.
 
Đây là sa mạc Giu-đa có dòng sông Gio-đan chảy băng qua và đổ vào Biển Chết. Phải chăng thánh Gioan thuộc vào cộng đoàn Kum-ran, có mặt ở trong miền nầy và sống trong sự chờ đợi Đấng Mê-si-a? Hay đơn giản ông có giao tiếp với cộng đoàn nầy? Phải nói rằng có rất nhiều điểm giống nhau giữa linh đạo của các nhà khổ hạnh Kum-ran và linh đạo của thánh nhân, nhưng cũng có rất nhiều điểm dị biệt.
 
Dù  thế nào, sa mạc là nơi ẩn cư quen thuộc của những nhà thần bí vĩ đại thời Cựu Ước và là nơi ưu tiên cho những cuộc gặp gở với Thiên Chúa, như Mô-sê, Ê-li-a vân vân. Cũng như chính trong sa mạc mà dân Ít-ra-en đã trải qua những kinh nghiệm tôn giáo hình thành nên những mốc điểm lịch sử của dân tộc mình.
 
Lời kêu gọi sám hối là đề tài thường hằng của truyền thống ngôn sứ. Gioan Tẩy giả là vị ngôn sứ cuối cùng tiếp tục truyền thống nầy, nhưng ông thêm vào đây phép rửa. Không phải trong sa mạc mà nước mặc lấy tất cả giá trị và ý nghĩa tròn đầy của nó sao? Nước đem lại sự sống và biểu tượng ơn cứu độ.
 
Gioan Tẩy giả sống theo lối sống khổ hạnh: “Ông mặc áo lông lạc đà, thắt đai lưng bằng da, ăn châu chấu và mật ong rừng”. Qua việc mô tả cách ăn mặc của Gioan giống như ngôn sứ Ê-li-a (1V 1: 8), thánh Mác-cô muốn thông báo rằng Gioan Tẩy giả chính là ngôn sứ Ê-li-a tái xuất hiện mà mọi người đang mong đợi. Ngoài ra, qua việc mô tả tỉ mĩ cách sống khổ hạnh của Gioan tẩy giả trong hoang địa cô tịch, thánh Mác-cô ngầm trình bày hình ảnh tương phản với Đức Giê-su: Ngài giao tiếp gần gũi với đủ hạng người ở ngoài xã hội, cùng ăn cùng uống, cùng chia sẻ cuộc sống vui, buồn, sướng khổ với họ. Quả thật, Tin Mừng Mác-cô cống hiến cho chúng ta hình ảnh rất là người của Đức Giê-su: Ngài ngủ say giữa cơn giông tố (4: 38), Ngài ngạc nhiên về việc các người đồng hương của Ngài thiếu niềm tin (6: 6), Ngài không có thì giờ ăn uống (6: 31), Ngài không biết khi nào ngày Thế Mạc sẽ đến (13: 32), nhất là Ngài chết như một kẻ tuyệt vọng (15: 34). Nhưng chính ở nơi tính chất rất là người nầy, thánh Mác-cô có ý định dẫn đưa người đọc vào mầu nhiệm của Đức Giê-su, Đấng Ki-tô và Con Thiên Chúa.
 
2.3- Chứng từ của Gioan Tẩy giả (1: 7-8).
Chứng từ của Gioan Tẩy giả về Đức Giê-su là cao điểm của đoạn Tin Mừng hôm nay. Sứ điệp của ông làm xáo động lòng người. Uy tín của ông quá lớn đến độ dân chúng khắp nơi tuôn đến với ông. Tuy nhiên, ông ý thức sâu xa về sự cao vời khôn ví của Thiên Chúa. Ông công bố quyền năng vượt bậc của Đấng mà ông có sứ mạng chuẩn bị cho việc Ngài đến khi sử dụng hình ảnh rất tương phản để diễn tả sự bất xứng của mình như tên nô lệ trước mặt chủ, cả đến việc cúi xuống cởi dép cho Ngài ông cũng chẳng xứng đáng nữa: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cỏi dép cho Người”. 
 
Nhất là ông nhận biết sự khác biệt căn bản giữa phép rửa của ông và phép rửa của Đức Giê-su: ông chỉ rửa trong nước, còn Đức Giê-su thì  rửa trong Thánh Thần. Điều làm cho Đức Giê-su trổi vượt hẳn vị Tiền Hô của Ngài, đó là Ngài là Đấng sở hữu Thánh Thần (x. 1: 10).
 
Danh tiếng của Gioan Tẩy giả vào thời đó không thể nào chối cải. Sách Công Vụ nói với chúng ta rằng ngay cả sau khi ông đã qua đời rất lâu sau đó, các cộng đoàn môn đệ của ông vẫn tồn tại (Cv 18: 24-25; 19: 1-7). Họ đề cao ông là “Đấng Mê-si-a” (Ga 1: 19-34). Như thế ngay từ trang đầu tiên Tin Mừng của mình, thánh Mác-cô đã đặt Gioan Tẩy giả vào đúng vị thế của ông: sứ mạng của ông chỉ là loan báo và chuẩn bị cho việc Đức Giê-su, Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, đến. Chính Đức Giê-su mới là Tin Mừng mà Gioan có sứ mạng loan báo cho hết mọi người.
 
Lm. Ignatio Hồ Thông
 
DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA ĐẾN
Lm Giuse Đinh Lập Liễm
 
Chủ đề Chúa nhật thứ I mùa Vọng là “Hãy tỉnh thức chờ đợi Chúa đến”. Chúa sẽ đến là một điều chắc chắn, nhưng trước khi Chúa đến, mọi sự phải được chuẩn bị sẵn sàng. Ngay từ thế kỷ thứ 6, tiên tri Isaia đã hô hào cho dân chúng hãy sửa đường cho Chúa đến (bài đọc I). Sau này, Gioan Tẩy giả xuất hiện, cũng tiếp nối sứ vụ tiền hô ấy, ông cũng khuyên mọi người như Isaia xưa :”Có tiếng hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngài đi”.
 
Chuẩn bị đường cho Chúa đến là phải sửa đường cho thẳng, cho tốt đẹp, sạch sẽ. Theo Gioan Tẩy giả, sửa đường chính là sám hối, là canh tân cuộc sống của mình để xứng đáng đón nhận Chúa đến trong ngày Ngài quang lâm và nhất là trong ngày sau hết của đời mình.
 
I. CÔNG VIỆC DỌN ĐƯỜNG.
Ngày nay, kinh tế phát triển mạnh, giao thông là yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế của một nước. Muốn cho giao thông tốt phải có đường tốt, muốn có đường tốt thì phải sửa chữa và bảo trì như : đường bộ, đường hàng hải hay đường hàng không. Sửa đường là một việc thường xuyên phải thực hiện để giao thông được dễ dàng.
 
1. Có nhiều con đường.
  • Con đường vật lý là những con đường làm bằng vật chất mà ta phải xử dụng hằng ngày để sự giao thông vật chất được dễ dàng. Những con đường này rất nhiều, rất đa dạng, ở đâu cũng có. Chỗ nào không có đường thì giao thông bị bế tắc.
  • Con đường tinh thần là con đường vô hình trong việc giao lưu giữa con người với con người .  Đây chỉ là con đường vô hình, siêu vật chất nhưng cũng có lúc bị tắc nghẽn hay bị cắt đứt làm cho sự giao lưu giữa con người gặp khó khăn ví dụ : hai người ngồi gần kề nhau mà vẫn thấy nghìn trùng xa cách.
  • Con đường thiêng liêng là con đương vô hình , siêu vật chất nối kết tâm hồn ta với thần linh, nối kết linh hồn  ta với Thiên Chúa. Con đường này cũng có khi bị tắc nghẽn làm cho chúng ta khó liên hệ với Chúa, ví dụ người luôn ở trong tình trạng phạm tội nhẹ hay ở trong tình trạng ơ hờ lạnh nhạt đối với Chúa. Cũng có thể con đường này bị cắt đứt trong tình trạng con người phạm tội trọng. làm cho ta không đến được với Chúa và Chúa không đến với ta.
 
2. Sửa phẳng con đường thiêng liêng.
Con đường thiêng liêng của chúng ta cũng có thể bị tắc nghẽn hay gián đoạn bởi thung lũng, núi đồi, khúc quanh co, đường lồi lõm. Tình trạng con đường bị tắc nghẽn nhiều hay ít là do từng người, và mỗi người chúng ta phải sửa chữa để đến với Chúa.
 
Tâm hồn ta có những hố sâu tham lam muốn chiếm đoạt tất cả, muốn thu quén tất cả vào túi riêng. Tâm hồn ta có những hố sâu chia rẽ, muốn gây bất hòa, luôn giận hờn, luôn ghen ghét, luôn nghi kỵ. Tâm hồn ta có những hố sâu đam mê, miệt mài đuổi theo danh, lợi, thú. Tâm hồn ta có những hố sâu dục vọng nặng nề thú tính.
Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự dối trá, không thành thật với Chúa, không thành thật với người khác và không thành thật với chính mình. Tâm hồn ta có những khúc quanh co của sự trốn tránh bổn phận, của sự giả hình, của sự thiếu duyệt xét lương tâm.
 
Tâm hồn ta có những lượn sóng gồ ghề của những lời nói độc ác, tàn nhẫn. Tâm hồn ta gồ ghề vì thói lười biếng không chịu cố gắng thăng tiến bản thân. Tâm hồn ta gồ ghề  vì những phê bình chỉ trích thiếu tính cách xây dựng.
 
Tất cả những ngọn đồi, những vực sâu, những khúc quanh co, những lượn sóng gồ ghề ấy ngăn Chúa đến với ta. Hãy bạt đi thói kiêu căng tự mãn.bạt đi thói kiêu hãnh ngang ngạnh. Hãy lấp đi những hố sâu tham lam, chia rẽ, bất hoà. Hãy lấp đi những hố sâu đam mê, dục vọng. Hãy uốn thẳng lại những khúc quanh co dối trá. Hãy uốn lại những khúc quanh giả hình. Hãy uốn lại những khúc quanh mưu mô xảo quyệt. Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề độc ác. Hãy san phẳng những sóng gồ ghề nói hành nói xấu.  Nên hôm nay, thánh Giaon Tẩy giả mời gọi ta hãy sửa chữa con đường thiêng liêng cho tốt đẹp để đón Chúa đến.
 
Muốn có con đường thẳng ngay và bằng phẳng, cần có một tâm hồn chính trực. Với những ai muốn đón Chúa đến, Gioan Tẩy giả yêu cầu :”Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”.  Khi đón một nhân vật quan trọng đến vùng nào, người vùng đó phải dọn dẹp đường cho ngay thẳng, bằng phẳng, sạch đẹp. Cũng vậy, để đón Chúa đến, ta cũng phải sửa lại những con đường trong tâm hồn ta cho ngay thẳng, bằng phẳng, sạch đẹp ; nghĩa là tâm hồn ta phải luôn ngay thẳng, chính trực, không quanh co, gian dối, giả hình...
 
Ngay thẳng là một trong những yếu tố chính yếu của sự công chính, thánh thiện. Thiết tưởng người Kitô hữu cần phải tạo cho mình một tư cách ngay thẳng, chính trực, nói gì hay làm gì cũng phải “công minh chính đại”, “đường đường chính chính”, không lén lút, giấu  giếm, không làm ai phải nghi ngờ điều gì. Tư cách của người Kitô hữu phải là tư cách của một người quân tử, tôn trọng sự thật, nghĩ thế nào nói thể ấy và nói sao thì làm vậy...
 
II. DỌN ĐƯỜNG VÀ SÁM HỐI.
 
1. Dân Israel đã sám hối.
Bài đọc I cho chúng ta biết : những năm tháng lưu đầy đã giúp họ hồi tâm lại và nhận thức lý do đưa tới tù đầy đau khổ là chính tội lỗi của họ (Yr 7,25-28). Từ đó nhóm dậy trong lòng họ những tâm tình sám hối, dẫn đến quyết định  dứt khoát với tội lỗi. Khi làm như thế là họ sửa sang đường lối trong tâm hồn cho ngay thẳng để đón tiếp vinh quang Chúa đến.
 
2. Thánh Gioan Tẩy giả cũng đòi sám hối.
Thánh Gioan rao giảng sự sám hối  bằng cách chịu phép rửa để được ơn tha tội.  Ngài đòi con người phải sửa đổi tâm hồn, nhưng ngài không làm cách mạng, ngài không bắt người ta  phải thay đổi cuộc sống, thay đổi địa vị xã hội, cho dù là thu thuế hay binh lính, hai hạng người mà thời bấy giờ  bị coi khinh và xem thường. Nhưng Gioan chỉ nhắc nhở, thúc giục mọi người hãy cải thiện đời sống, đổi mới tâm hồn để sẵn sàng chờ đón Chúa đến.
 
3. Chúng ta cũng phải sám hối.
Sám hối, theo tiếng Hy lạp có nghĩa là thay đổi não trạng. Theo tiếng Do thái là quay trở về, trở lại, tức là trở về với Chúa, với giao ước của Chúa. Gioan rao giảng kêu gọi mọi người sám hối. Ai nghe lời ngài giảng mà sám hối thì được ngài làm phép rửa. Nhưng phép rửa của ngài chỉ có tính cách giúp người ta thống hối, sửa soạn cho việc tha tội, chứ không phải là một bí tích như phép rửa Chúa Giêsu sẽ thiết lập sau này.
 
Sám hối là biết trở về, nghĩa là phải nhận biết tội lỗi của mình, biết nhìn nhận ra thực trạng của linh hồn mình, nhưng mấy người biết nhìn ra tội lỗi của mình.  Biết thực trạng con người của mình là điều kiện cần thiết của sự sám hối.
 
Gần 20 thế kỷ nay, thánh Phaolô tông đồ đã nói :”Tôi xử sự như một thằng điên và sai lầm của tôi thì nhiều vô kể”.
 
Hùm thiêng khi đã sa cơ như Napoléon lúc ngồi vò võ tại đảo Sainte Hélène cũng phải tự thú :”Sự sụp đổ này là tại chính tôi, tôi là tử thù của tôi, là nguyên nhân mạt kiếp của tôi”.
 
Tâm hồn thánh thiện như thánh Phaolô, một bộ óc vĩ đại như Napoléon mà còn buông ra những lời tự thú như vậy thì huống hồ là chúng ta...hay làm lỗi mà ít khi chịu nhận là mình lầm lỗi.
 
Triết gia Elbert Hubbart nói :”Người nào cũng sai lỗi ít là 5 phút mỗi ngày. Bậc thánh nhân là không để vượt qua thời gian kỷ lục ấy”.
 
Như vậy ai dám nói là mình hoàn hảo, không còn sai sót gì, không cần phải sửa đổi gì bởi vì như người ta thường nói: “Bàng quan giả tỉnh, đương cục giả mê”: việc người thì sáng, việc mình thì quáng.
 
Truyện: Biết nhận lỗi mình.
Công tước d’Ossone, một nhà chính trị trứ danh, vào năm 1624 lên chức phó vương ở Naples. Một hôm, ông đến thăm nhà ngục và hỏi từng phạm nhân là đã làm gì mà mình bị giam
 
Tất cả mọi tù nhân đều kêu là mình bị oan, duy chỉ có một anh cúi đầu nhận tội,  và còn nói đáng lẽ ra mình phải chịu phạt hơn nữa mới xứng đáng. Thấy hắn khiêm nhường nhận lỗi, công tước bảo: ”Như vậy thì anh ở đây không phải chỗ; anh có tội mà sao lại ở giữa những người vô tội này? Hãy ra khỏi đây, Ta tha cho anh”.
 
Chúa cũng sẽ tha tội cho tất cả những ai thành thật thú nhận tội lỗi của mình, bởi vì bản tính của con người là hay sa ngã, còn bản tính của Thiên Chúa là hay tha thứ!
 
Đức Khổng Tử đưa ra môt chương trình giáo dục mà ngày nay vẫn còn có giá trị. Chương trình đó là: ”Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”: muốn cai trị được thiên hạ, muốn đem lại được bình an thịnh vượng cho thế giới thì trước tiên phải “tu thân”, phải sửa mình cho nên tốt đã. Mình có tốt thì mới điều khiển được thiên hạ, mới có thể đưa xã hội vào con đường ngay chính, mới đưa đến trật tự an toàn, mới có hoà bình trật tự. Còn nếu muốn điều khiển thiên hạ mà mình chưa tốt thì sẽ rơi vào tình trạng “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”:            Người trên ở chẳng chính ngôi
Làm cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.
 
Truyện: kinh nghiệm của một triết gia.
Một triết gia Ấn độ đã nhìn lại quãng đời đi qua của mình như sau:
  • Lúc còn trẻ, tôi là một người có đầu óc cách mạng. Lời cầu nguyện duy nhất mà tôi dâng lên Thiên Chúa là: lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để con thay đổi thế giới.
  • Đến tuổi trung niên, tôi mới nhận thấy rằng một nửa đời người của tôi đã qua đi mà tôi chưa thay đổi được một người nào. Lúc đó, tôi mới cầu nguyện với Thượng Đế: lạy Chúa,  xin cho con được biến cải tất cả  những người con gặp gỡ hằng ngày, nhất là gia đình con, bạn bè con. Và như vậy là đủ cho con mãn nguyện rồi.
  • Nhưng giờ đây, tóc đã bạc, răng đã long, ngày tháng còn lại chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, tôi mới nhận thức rằng tôi đã khờ dại biết chừng nào. Giờ này, tôi chỉ biết cầu nguyện như sau: lạy Chúa, xin ban cho con được thay đổi chính con.
Nếu tôi biết cầu nguyện như thế ngay từ lúc đầu, thì tôi đã không phí phạm quãng đời đã qua. Dọn đường cho Chúa đến, chính là nỗ lực hoán cải bản thân và thực thi bác ái.
 
Một nhà cách mạng đã nói: ”Chỉ cần 10 người như thánh Phanxicô Assisi thì cuộc diện thế giới sẽ thay đổi”. Cuộc cách mạng đầu tiên mà bất cứ vị thánh nào cũng khởi sự, đó là cách mạng bản thân.
 
Vào thế kỷ 12, tệ đoan lan tràn khắp nơi, các phe phái quá khích nổi lên, nhiều người phê bình chỉ trích các nhà lãnh đạo Giáo hội vì cuộc sống phản chứng của các ngài. Lúc đó thánh Phanxicô Assisi xuất hiện.  Ngài không chỉ trích ai, nhưng ý thức rằng kẻ phải ăn năn sám hối trước tiên là chính ngài. Ngài không khoe khoang, không tham lam, không giả hình, nhưng cố gắng sống nghèo khó, bác ái, phục vụ, khoan dung. Lý tưởng của thánh Phanxicô  chẳng mấy chốc đã được nhiều người chia sẻ.  Giáo hội được hồi sinh, nhiều tâm hồn được đổi mới. Mùa xuân thiêng liêng được nở rộ nhiều thế kỷ kế tiếp. Chắc chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé, thấp hèn, không làm gì được để góp phần vào trong việc cải tạo thế giới, nhưng chúng ta hãy theo gương thánh Phanxicô Assisi, cứ tự thay đổi con người của mình trước đi, rồi mọi việc sẽ trao phó cho Chúa. “Thà thắp lên một ngọn đèn hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối”. Nếu mỗi người, ai cũng đốt lên ngọn đèn của mình, nếu mỗi người, ai cũng đóng góp phần ít ỏi, nhỏ mọn của mình, thì có lẽ thế giới này sẽ bớt lạnh lẽo hơn vì lòng ích kỷ... Không ai nghèo đến nỗi không có gì cho người khác. Hãy bắt đầu bằng món quà nhỏ mọn, có khi vô tình của chúng ta. Một giọt nước nhỏ là một điều không đáng kể trong đại dương bao la, nhưng nếu không có những giọt nước nhỏ kết tụ lại, thì đại dương kia cũng chỉ là sa mạc khô cằn.
 
Đức Giêsu đã đến lần thứ nhất để giải thoát loài người khỏi ách nô lệ tội lỗi và ma qủi. Ngài sẽ đến lần thứ hai để phán xét kẻ sống và kẻ chết trong vinh quang của Ngài. Ngài đang đến, đến từng giây phút, chúng ta đang đón chờ ngày Người quang lâm. Và Chúa sẽ đến riêng với chúng ta trong ngày lìa bỏ cõi đời này, ngày Ngài đến không còn xa. Thời gian còn rất ngắn, chúng ta hãy ráo riết chuẩn bị, luôn ở trong tư thế tỉnh thức và sẵn sàng.
 
Để kết thúc, chúng ta hãy suy niệm và cầu nguyện bằng bài thơ cổ, nói về cuộc đời này chóng qua thế nào và điều gì quan trọng vào giây phút cuối cùng:
  • “Khi tôi là một đứa trẻ, tôi cười và khóc, thì lúc đó thấy thời gian bỏ tôi.
  • “Khi thôi là một thanh niên, tôi táo bạo hơn, thì thấy thời gian đi bộ.
  • “Khi tôi trưởng thành, tôi là một người chững chạc, thì thấy thời gian chạy.
  • “Cuối cùng khi tôi bước vào tuổi chín mùi, tuổi già, thì thấy thời gian bay “Chẳng bao lâu nữa là tôi chết, lúc đó thời gian đã đi mất. “Ôi! lạy Chúa Giêsu, khi cái chết đến, thì ngoài Ngài ra, không còn gì là quan trọng nữa”.
Lm Giuse Đinh Lập Liễm
HÃY DỌN SẴN ĐƯỜNG CHO CHÚA
“Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Ðức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mc 1,3)
Lm. Giuse Đinh Tất Quý
Kính thưa anh chị em,
Hằng năm cứ mỗi lần Mùa Vọng trở về là chúng ta có dịp gặp lại một trong những khuôn mặt rất đặc biệt của Tin Mừng. Tôi muốn nói đến Gioan Tẩy Giả.
 
Hồi ấy Gioan xuất hiện trong hoang địa miền Giuđêa. Ông xuất hiện với một cung cách hơi đặc biệt. Tin Mừng nói về ông như sau: “Ông mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, cũng chẳng muốn khác người, nhưng ông làm thế là vì ông ý thức về sứ mệnh cao cả của mình. Ông đã từ bỏ hầu như hết mọi thứ mà người đời thường tìm kiếm.
 
a/ Ăn mặc: Ông ăn mặc rất đơn sơ dân dã.
Làm người ai mà chẳng muốn ăn ngon mặc đẹp? Gioan có đủ và còn có dư điều kiện để làm việc đó. Chúng ta nhớ ông là người con duy nhất của một gia đình giàu có. Cha mẹ ông là người có địa vị, có thế giá trong xã hội. Vì cha của Gioan thuộc giai cấp tư tế. Thế nhưng Gioan đã hy sinh.
 
Của ăn thức uống của ông không phải là những thứ cao lương mỹ vị. Tin Mừng cho chúng ta biết ông ăn châu chấu và thêm vào đó có một chút mật ong trong rừng. Áo mặc của ông cũng không phải là thứ đắt tiền. Chúng được làm bằng lông da thú, một thứ áo mặc thường dùng của những người mục tử nghèo khó. Đôi dép ông mang ở dưới chân cũng thế. Tất cả đầu bằng da thú vừa sẵn có vừa rẻ tiền.
 
b/ Về cuộc sống thường ngày của ông thì Thánh Luca bảo: ngay từ thuở còn niên thiếu ông đã chọn chốn hoang vu làm nơi cư ngụ cho mình. Ông tự nguyện sống một cuộc sống khắc khổ khó khăn như thế để tự rèn luyện mình nên một con người sắt đá hầu có thể đối mặt, đương đầu với những thách đố do sứ mệnh của ông đòi buộc.
 
Claude Tassin nói về ông như thế này: “Ông không lập dị nhưng ông coi thường những tiện nghi vật chất. Ông muốn sống hoàn toàn tự do không để cho mình bị ràng buộc vào bất cứ một thứ gì mà người trần thế coi trọng”. Ta có thể tóm lại trong hai tiếng: Ông muốn sống siêu thoát để ông được tự do hành động theo sứ mạng của mình.
 
Bây giờ chúng ta hãy nghe lại nội dung những lời ông tuyên bố trong bài Tin Mừng hôm nay: Hãy dọn đường cho Chúa.
Vâng “Hãy dọn đường”. Đường đi có một giá trị rất quan trọng trong cuộc sống.
 
Trong trận lũ lụt vừa qua, nhiều du khách trên tuyến đường Bắc – Nam bị kẹt ở miền Trung. Lý do là đèo Hải Vân bị sạt lở, xe cộ không đi lại được. Nhiều đoạn đường sắt bị nước lũ cuốn đi, nên tàu Bắc – Nam cũng đành ủ rũ nằm chờ. Nhiều làng bị nước ngập, dân làng muốn thoát ra nhưng không đi được vì đường sá không còn. Nhiều đoàn cứu trợ muốn đến những làng xa xôi, nhưng không có đường đi, nên đành chịu bó tay.
 
Những con đường thật là quan trọng. Đường đi giúp cho người bị nạn có thể thoát ra. Đường đi giúp cho người bị nạn đón nhận được sự cứu trợ. Đường đi nối liên lạc giữa người với người. Đường sá hư hỏng làm giao thông ngừng trệ, chậm trễ việc cứu trợ, ngăn cách người với người. Muốn cho giao thông mau lẹ, muốn việc cứu trợ có kết quả, muốn cho con người gần gũi nhau, phải sửa chữa đường đi cho thật tốt.
 
Con đường vật lý đã cần. Nhưng con đường tâm lý thiêng liêng còn cần hơn. Nếu con đường tâm lý bị hư hỏng thì dù có ở sát cạnh nhau, người ta cũng vẫn cứ xa nhau.
 
Tương tự như thế, ta cần có con đường thiêng liêng thật tốt để đón Chúa đến. Thật ra Chúa đã đến từ lâu, từ hơn hai mươi thế kỷ nay nhưng nhiều người vẫn chưa gặp được Chúa.
Tại sao thế? Thưa vì:
  • tâm hồn ta còn có những đỉnh đồi kiêu ngạo luôn muốn nâng mình lên, luôn khoe khoang, không bao giờ chịu thua kém người khác.
  • Tâm hồn ta còn có những ngọn núi tự ái cao ngất trời xanh, không bao giờ chịu nhận lỗi, không bao giờ chịu tha thứ.
  • Tâm hồn ta còn có những hố sâu tham lam muốn chiếm đoạt tất cả, muốn thu vén tất cả vào túi riêng.
  • Tâm hồn ta còn có những hố sâu chia rẽ, thích gây ra bất hoà, luôn giận hờn, luôn ganh ghét, luôn nghi kỵ.
  • Tâm hồn ta còn có những hố sâu đam mê, miệt mài đuổi theo danh, lợi, thú. Tâm hồn ta còn có những hố sâu dục vọng nặng nề thú tính.
  • Tâm hồn ta còn có những khúc quanh co của sự dối trá, không thành thật với Chúa, không thành thật với người khác và không thành thật với cả chính mình.
  • Tâm hồn ta còn có những khúc quanh co của sự trốn tránh bổn phận, của sự giả hình, của sự thiếu duyệt xét lương tâm.
  • Tâm hồn ta còn có những lượn sóng gồ ghề của những lời nói độc ác, tàn nhẫn.
  • Tâm hồn ta còn gồ ghề vì thói lười biếng không chịu cố gắng thăng tiến bản thân, ưa phê bình chỉ trích thiếu tính cách xây dựng.
 
Vâng! Tất cả những ngọn đồi, những vực sâu, những khúc quanh co, những lượn sóng gồ ghề ấy đang ngăn chặn Chúa đến với ta. Chính vì thế mà hôm nay, Thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi ta hãy sửa chữa con đường thiêng liêng cho tốt đẹp để đón Chúa Giêsu đến.
  • Hãy bạt đi thói kiêu căng tự mãn.
  • Hãy bạt đi tính tự ái ngang ngạnh.
  • Hãy lấp đi những hố sâu tham lam, chia rẽ, bất hoà.
  • Hãy lấp đi những hố sâu đam mê, dục vọng.
  • Hãy uốn thẳng lại những quanh co dối trá.
  • Hãy uốn thẳng lại những khúc quanh giả hình.
  • Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề độc ác.
  • Hãy san phẳng những lượn sóng gồ ghề nói hành nói xấu.
 
Đổi mới một con đường thì dễ, nhưng đổi mới tâm hồn không dễ chút nào. Ngoài những cố gắng bản thân, còn cần đến những phương thế. Đời sống của Thánh Gioan Baotixita đề nghị cho ta 3 phương thế rất tốt.
  • Phương thế thứ nhất là vào sa mạc. Sa mạc là nơi hoang vu vắng vẻ giúp ta sống cô tịch. Trong cô tịch, ta dễ chìm sâu xuống đáy lòng mình để gặp gỡ Chúa. Một mình ta diện đối diện với Chúa. Trong thân mật, Chúa sẽ dạy ta biết Thánh Ý để ta thi hành. Sa mạc đây được hiểu là những giờ cầu nguyện riêng tư thân mật một mình ta với Chúa.
  • Phương thế thứ hai là mặc áo da thú. Mặc áo da thú có nghĩa là ăn mặc đơn sơ, không chải chuốt. Một tâm hồn mặc áo da thú là một tâm hồn biết sống thực với chính mình, biết nhìn nhận những yếu đuối lỗi lầm và xin Chúa tha thứ. Thái độ đơn sơ khiêm nhường như thế chính là khởi điểm để tiến lên trên con đường thánh đức.
  • Phương thế thứ ba là ăn châu chấu và mật ong rừng. Đây có ý nói về một đời sống khổ chế. Hãm dẹp những tính mê tật xấu, hạn chế những đòi hỏi của thân xác để bắt nó quy phục linh hồn. Giảm bớt những nhu cầu không cần thiết để bồi dưỡng đời sống tâm linh.
Một buổi chiều, bề trên của một dòng kia hỏi một tu sĩ:
  • Hôm nay con đã làm gì?
Cũng như những ngày khác, tu sĩ trả lời:
  • “Con rất bận bịu và nguyên sức con không thể nào làm nổi, ngoài sự giúp đỡ của Chúa. Ngày nào con cũng phải coi hai con chim ưng, giữ hai con nai, kìm hãm hai con diều hâu để rèn ý chí, thắng một con sấu, trị một con gấu và săn sóc một bệnh nhân”.
  • Con nói gì thế? Bề trên cười hỏi lại, những việc như thế làm gì có trong nhà dòng?
  • Thưa bề trên, thật đúng như thế. Hai con chim ưng là hai con mắt của con mà con phải giữ gìn luôn để khỏi nhìn những vật cấm. Hai con nai tức là hai chân mà con phải trông coi từng bước đi để con khỏi đi vào con đường xấu. Hai con diều hâu tức là hai bàn tay con, con phải luôn luôn bắt nó phải làm nhiều điều phải. Con sấu là cái lưỡi, con phải kìm hãm hằng ngày để khỏi nói những điều vô ích và thô bỉ. Con gấu là trái tim con, con phải trừng trị, để khỏi ích kỷ và khoe khoang. Còn bệnh nhân là chính thân thể con, con phải canh phòng ráo riết để cho nhục dục khỏi xâm phạm vào.
Thánh Gioan Baotixita đã sống tương tự như thế nên Ngài đã trở thành người mở đường cho Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta biết cũng biết sống như vậy trong Mùa Vọng này, ta sẽ biến tâm hồn ta thành một con đường thẳng tắp và Chúa Giáng Sinh sẽ ngự đến với vô vàn hồng ân của Người.
Lm. Giuse Đinh Tất Quý
HÃY CHUẨN BỊ TÂM HỒN CHO XỨNG ĐỂ ĐÓN CHÚA ĐẾN
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Việc chuẩn bị đón chờ Chúa đến đã được ghi khắc trong lịch sử nhân loại. Lịch sử của tình thương và đầy lòng trắc ẩn của Thiên Chúa đối với con người. Lịch sử ấy có những đòi hỏi như Gioan Baotixita kêu gọi chúng ta: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng“. Thiên Chúa vĩ đại và quyền năng đã hạ mình xuống với con người, đến với chúng ta dưới hình hài một trẻ thơ nghèo, kêu mời chúng ta khiêm tốn đến gặp Người. Bước vào Chúa nhật II Mùa Vọng với chủ đề : Populus Sion … (Này hỡi Dân Sion…) Chúa sắp ngự đến cứu độ muôn dân. Người sẽ lên tiếng thật oai hùng, khiến tâm hồn anh em hoan hủy… ” (Ca nhập lễ). “Lạy Mục Tử nhà Israel, xin hãy đến cứu độ đoàn chiên Ngài… như chăn giữ chiên cừu, xin hãy lắng tai nghe! …” (Tv 79, 2)
 
Trong bài đọc I, tiên tri Isaia vang lên lời Chúa phán với Dân Ngài như một sự trấn an trước cảnh nô lệ và tội lỗi : “Hỡi dân Ta, hãy an tâm, hãy an tâm! …Thời nô lệ đã chấm dứt, tội lỗi đã được ân xá, Chúa đã ban ơn nhiều gấp hai lần tội lỗi” (Is 40, 2). Và hơn thế nữa, Chúa truyền cho Isaia: “Hãy nói cho các dân thành thuộc chi họ Giuđa rằng: Đây Thiên Chúa các ngươi, đây Chúa là Thiên Chúa các ngươi sẽ đến trong quyền lực; cánh tay Người sẽ thống trị. Người mang theo những phần thưởng chiến thắng và đưa đi trước những chiến lợi phẩm. Người chăn dắt đoàn chiên Người như mục tử. Người ẵm chiên con trên cánh tay, ôm ấp chúng vào lòng, và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ” (Is 40, 9-11).
 
Để được như vậy Dân Chúa phải thực hành không trì hoãn khi nghe thấy tiếng kêu trong hoang địa: “Hãy dọn đường Chúa… Hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi” (Is 40, 3).
Hố sâu và đồi núi gồ ghề sẽ gây cản trở người đi lại, khiến người ta khó đến với nhau. Lấp hố sâu và bạt núi đồi là dẹp bỏ lòng tự mãn kiêu căng của chính mình, là cản trở lớn nhất trên đường Chúa đến với chúng ta. Khi chúng ta thực hành nét đẹp của khiêm nhường và hạ mình xuống, chúng ta sẽ khám phá ra sự kiêu ngạo ẩn sâu trong lòng ta. “Hãy sửa đường Chúa chúng ta trong hoang địa cho ngay thẳng” (Is 40, 3). Như Gioan nói : “Con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng ” (Mc 1).
 
Gioan Tẩy Giả được Marcô (1, 2-8) trình bầy như vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước, ví ông như “Thiên Thần của Ta đến trước mặt ngươi để dọn đường cho ngươi” (Mc 1,2; Ml 3,1) từ trong hoang địa, cất lời rao giảng “phép rửa sám hối cầu ơn tha tội” (Mc 1, 4). Lời giảng tuy nghiêm nghị nhưng thu hút “cả miền Giuđêa và Giêrusalem” (Mc 1, 5). Gioan đã xuất hiện với những người đương thời như là hy vọng cuối cùng của một dân tuyệt vọng. Rất ít người nhận ra sứ vụ đích thực của ông là để “dọn đường cho Chúa đến”.
 
Gioan xuất hiện như Tiếng kêu trong hoang địa, mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú. Ông không kêu gọi người ta trở nên nhà khổ tu giống như ông. Ông rao giảng rằng : “Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi… Ngài sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần” (Mc 1, 7.8). Lời của Gioan vẫn vang dội qua các thời đại và như một sứ điệp cấp bách gửi đến với chúng ta ngày hôm nay. Kêu mời thay đổi nội tâm, bắt đầu từ việc thừa nhận và xưng thú tội lỗi của mình. Kết quả là: “Cả miền Giuđêa và Giêrusalem tuôn đến với người, thú tội và chịu phép rửa trong sông Giođan” (Mc 1, 5).
 
Mùa Vọng năm nay, chúng ta đang sống như thế nào, nếu không phải là chuẩn bị tâm hồn, giục lòng tin, cử hành Phụng vụ cho sốt sáng để lãnh nhận ân sủng mà Chúa Kitô đã mang đến trong thế gian cho mọi người hưởng nhờ. Năm nay là năm Tân Phúc Âm hoá đời sống gia đình. Năm 2015 sắp tới là năm Hội Đồng Giám Mục Việt Nam mời gọi chúng ta Phúc Âm hoá đời sống cộng đoàn giáo xứ và cộng đoàn thánh hiến. Vậy giờ đây, có thể nói là bốn tuần của Mùa Vọng là như “tiền đường” để bước tiếp vào những ngày thánh. Chúng ta hãy chuẩn bị tinh thần bằng lời cầu nguyện, sẳn sàng tiếp đón Ðấng Cứu Thế ngự đến!
 
Hãy thay đổi cung cách suy nghĩ hành xử và sống thanh đạm “Vì nước trời gần đến“. Công Đồng Va-ti-ca-nô II dạy rằng : Chúng ta không biết được thời gian hoàn tất của trái đất và nhân loại, chúng ta cũng chẳng biết cách thức biến đổi vũ trụ. Chắc chắn hình ảnh của một thế gian lệch lạc vì tội lỗi sẽ qua đi, nhưng chúng ta được biết Thiên Chúa đã dọn sẵn một chỗ ở mới và một đất mới, nơi công bằng ngự trị. Hạnh phúc nơi ấy sẽ thỏa mãn và đắp đầy mọi ước vọng hòa bình trào dâng trong lòng con người. Khi ấy, sự chết sẽ bị đánh bại, con cái Thiên Chúa sẽ phục sinh trong Chúa Kitô và những gì được gieo vãi trong yếu hèn, mục nát, sẽ mặc lấy sự không hư nát ; tình yêu và các hoạt động bác ái sẽ tồn tại và toàn thể tạo vật mà Thiên Chúa đã dựng nên cho con người sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ phù vân.
 
Chúng ta đã được cảnh giác là lời lãi cả thế gian mà chính mình hư mất nào ích lợi gì. Nhưng sự trông đợi đất mới không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà Thân Thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới. Trích “Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng“, § 39, 1-3.
 
Đừng sợ sống hy vọng. Trong thế giới đầy bất ổn và bạo lực này, ước gì Mùa Vọng và việc chờ đón “Hoàng Tử Bình An” đến, cho chúng ta dịp suy gẫm Lời Chúa. Hãy tránh ngủ quên, và cương quyết dọn đường cho Chúa, là nguồn mạch bình an, niềm vui, tình yêu và hy vọng, là Ðấng không ngừng đến để an ủi dân Người. Chúng ta hãy đặt tay ta vào tay Mẹ Maria, Trinh Nữ của sự chờ đợi, để Mẹ dẫn chúng ta đến gặp gỡ Chúa Giêsu Con Mẹ. Amen.
 
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
NẺO ĐƯỜNG SÁM HỐI
UBKT. HĐGM VIỆTNAM
Lời hiệu triệu mở đường
Con đường là phương tiện thiết yếu trong giao thông. Con đường là điều kiện cần có để liên lạc và nối kết. Không có con đường hoặc con đường đã hư hỏng thì mất hết mọi nối kết. Tuy có nhiều loại đường khác nhau như đường bộ, đường thủy, đường hàng không, nhưng tất cả đều có cùng một mục đích là để liên lạc, để nối kết. Tuy nhiên, còn có những con đường vô hình đi vào lòng người, để cảm thông, để chia sẻ nỗi niềm ; và có con đường hướng đến trời cao để gặp Thiên Chúa, để đón nhận ân phúc. Cần phải mở con đường bằng việc sám hối để Thiên Chúa đến với con người và để con người đến với Thiên Chúa: “Hãy dọn sẵn con đường cho Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi”.
 
Mở đường bằng hành động sám hối
Kho tàng thần thoại Hy Lạp đã ghi lại câu chuyện về hai cha con Idam và Ika. Người cha là Idam, một kiến trúc sư kiêm điêu khắc, ông đã xây một “bát quái trận đồ” để giam con quái vật có đầu người mình thú. Nhưng sau đó, vua Minos đã bắt giam hai cha con vào đó. Tuy nhiên, với tài khéo của người cha, họ đã chế tạo được cho mình những đôi cánh bằng sáp, để bay lên cao thoát ra khỏi nơi bị giam cầm. Thích thú với cảnh trên không trung, đứa con là Ika cứ muốn bay cao hơn, cao hơn nữa, mặc cho người cha cản ngăn. Ika càng lúc càng bay cao đến gần mặt trời, đôi cánh bằng sáp không chịu nổi sức nóng và bắt đầu tan chảy. Cuối cùng đôi cánh tan rã và Ika rơi xuống chết thảm thương.
 
Thi hào Shakespeare đã nói “Chỉ có người ngu mới tin mình là thánh và chỉ có bậc thánh mới biết cái ngu của mình”. Biết cái giới hạn, biết những tật xấu của mình mới là kẻ tỉnh thức và hy vọng được cứu sống.
 
Mùa Vọng mời gọi hãy mở đường bằng việc sám hối. Hãy vào sa mạc là nơi thanh tịnh để con người dễ dàng gặp gỡ Thiên Chúa và thuận tiện để nhìn rõ chính bản thân mình. Nơi sa mạc của lòng mình, ta sẽ gặp Thiên Chúa để nhận biết ngài là Đấng khoan dung đầy lòng thương xót và đón nhận lòng từ bi nhân hậu của Chúa. Nơi thanh vắng của tâm hồn, ta dễ dàng nhìn bản thân mình, nhận ra những khuyết điểm, lầm lỗi để quyết tâm sửa đổi và nài xin Chúa thứ tha.
 
Có tiếng kêu trong hoang địa : “Hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”. Hãy sửa đường cho thẳng bằng việc sám hối. Sám hối luôn đòi hỏi một thái độ quả cảm anh hùng, biết dìm mình trong tinh thần khiêm tốn thẳm sâu, để nhận biết mình còn nhiều yếu đuối lỡ lầm. Chính thánha3 đã trở thành mẫu gương tuyệt vời, đó là sống tinh thần sám hối trước khi rao giảng : sống khổ hạnh và khiêm tốn.
 
Sám hối đích thực không phải chỉ là chịu phép rửa như dấu hiệu của lòng ăn năn, nhưng còn dám thực hiện những hành động cụ thể, dám chấp nhận những từ bỏ đau đớn, để lãnh nhận phép rửa trong Thánh Thần. Chúa Thánh Thần sẽ giúp ta đổi mới tâm hồn và trong tư thế mong chờ trời mới đất mới (bài đọc 2).
 
Sám hối để đón nhận Thánh Thần
Sám hối bằng hành trình đi vào sa mạc, là tự lột bỏ chính mình, xóa sạch mọi đam mê tội lỗi, loại bỏ những uẩn khúc quanh co của ích kỷ hận thù. Nhưng tất cả những đam mê tật xấu đã quá quen thuộc, thậm chí rất “thân thương” với chúng ta. Vì thế, thay đổi cuộc sống là một thách đố lớn lao. Không ai biết rõ mình bằng chính mình, cần phải có ý chí vững mạnh để từ bỏ những “thói xấu thân thương”, nhờ đó, ta chuẩn bị một tâm hồn xứng đáng, sẵn sàng đón nhận Thánh Thần.
 
Chúa Thánh Thần sẽ giúp ta dẹp bỏ những trở ngại trên đường : những lồi lõm của lòng tham và ích kỷ, những núi đồi của kiêu căng tự phụ, những gập ghềnh của buông thả khoe khoang, những quanh co của những lươn lẹo dối trá.
 
Chúa Thánh Thần là Đấng giải thoát ta khỏi “bát quái trận đồ” của mưu mô ma quỷ, của mê lộ tính hư tật xấu, chính Ngài là Đấng dẫn đường, giúp ta đi trên chính lộ đầy ân sủng và bình an. Thiên Chúa sẽ dẫn dắt ta đi bằng tình yêu của ngài : “Ngài ẵm chiên con trên tay, ôm ấp chúng vào lòng và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ” (bài đọc 1).
 
Nếu ta nghe trong hoang địa có tiếng kêu: “Hãy dọn sẵn con đường để Chúa đi”, thì với tình yêu của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ lắng nghe được những tiếng kêu khác từ cuộc đời : tiếng kêu của kẻ ăn xin, tiếng rên rỉ của người đang đói, tiếng thét của những kẻ bị đối xử bất công… Những tiếng kêu ấy đang thúc bách ta mở một con đường mới, bắt đầu từ bản thân mình, để chính ta là người đi bước trước đến với họ. Con đường ta đến với những người bất hạnh cũng là con đường dẫn ta đến với Thiên Chúa (Mt 25).
 
Mùa Vọng là thời gian chờ đợi Chúa đến. Đây không chỉ là thời gian khoảng một tháng để chuẩn bị đón mừng đại lễ Giáng Sinh, nhưng mùa Vọng còn là thời gian kéo dài suốt cả cuộc đời mỗi người. Suốt chiều dài cuộc sống, người kitô hữu luôn cần mở đường, thay đổi cuộc sống tốt hơn để biết lắng nghe những tiếng kêu, mở ra con đường đến với anh em; đồng thời phải biết sám hối để biết đón nhận muôn ơn lành của Thiên Chúa, mở ra con đường thẳng tiến về Nước Trời.
UBKT. HĐGM VIỆTNAM
 
TIẾNG HÔ TRONG SA MẠC
Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
Mỗi năm, khi Mùa Vọng về, Phụng vụ lại giới thiệu với chúng ta hình ảnh của thánh Gioan Tiền Hô, cùng với lời kêu gọi sám hối. Các bài Tin Mừng được đề nghị đọc trong thánh lễ Chúa nhật thứ hai Mùa Vọng cho cả ba năm A,B,C đều nhắc tới vị ngôn sứ này. Điều đó cho thấy, chủ đề chính của Lời Chúa trong Chúa nhật này là lời mời gọi sám hối để dọn mình xứng đáng đón Chúa đang ngự đến.
 
Thánh Gioan Tiền Hô được diễn tả như một nhà khổ tu và sống gần gũi thân thiện với thiên nhiên. Áo ông mặc là miếng lông lạc đà, thắt lưng của ông là dây da, lương thực hằng ngày là châu chấu và mật ông rừng. Việc xuất hiện của ông, theo thánh sử Mácô, cũng là điều ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia tiên báo: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho con..”.
Sám hối là khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm của mình trước mặt Chúa và đối với anh chị em. Đây là một điều kiện cần thiết để có thể đón Chúa đến trong cuộc đời. Khi tâm hồn chúng ta đầy những tham vọng vật chất và chứa đầy sự hận thù, làm sao ta còn có chỗ để đón Chúa đến trong ta? Ngôn sứ Isaia đã dùng những hình ảnh rất sinh động để diễn tả tâm tình sám hối: Hãy nắn thẳng những con đường, hãy lấp đầy những thung lũng, hãy san phẳng những núi đồi… Chỉ khi nào khiêm tốn chấp nhận thay đổi tận căn của cuộc đời như thế, chúng ta mới được gặp gỡ Chúa và chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài. Đối với ai thành tâm kiếm tìm Chúa, cuộc gặp gỡ ấy sẽ là sự an ủi ngọt ngào, sẽ là niềm hạnh phúc bất tận (Bài đọc I).
 
Thánh Gioan được chính Chúa sai đến và Ngài trao cho ông một sứ mạng quan trọng đến nỗi tên của ông được gắn liền với sứ mạng này: Tiền Hô. Sau này, trong lời rao giảng của mình, ông cũng khiêm tốn nhận mình là một tiếng hô trong sa mạc (Ga 1,23). Tiếng hô giữa đô thị hay thôn làng thì còn có nhiều người nghe thấy. Còn tiếng hô giữa sa mạc thì xem ra vô ích vì nơi đây không có người, hơn nữa trong sa mạc luôn có gió gầm rít nên sẽ át đi mọi âm thanh của con người.
 
Chúng ta sống trong một đất nước Việt Nam đang có nguy cơ sa mạc hóa. Báo điện tử “Môi trườNg & Pháp luật” ngày 8-11-2014 đã đăng thông tin: khoảng 9 triệu ha đất ở Việt Nam đang bị hoang hóa và hơn 400 nghìn ha đã bị sa mạc hóa. Tình trạng nắng nóng gia tăng, hạn hán kéo dài ở nhiều vùng trên cả nước hiện nay là nguyên nhân khiến diện tích đất hoang hóa ngày càng mở rộng và có nguy cơ bị sa mạc hóa.
 
Nhưng một tình trạng còn nghiêm trọng hơn nữa là hoang hóa đời sống tinh thần nơi con người. Nếu như cuộc sống vật chất hôm nay đang dần được cải thiện rất nhiều để đáp ứng nhu cầu của con người, thì cuộc sống tình cảm lại đang dần chai cứng đến mức vô cảm. Có những lúc đang đi giữa chốn đông người mà chúng ta cảm thấy cô đơn, thiếu vắng tình người. Khi con người thiếu quan tâm đến nhau, họ sẽ giống như những cây khô cằn trong sa mạc. Hậu quả của hiện tượng sa-mạc-hóa cuộc đời là những gia đình tan vỡ, người già cô đơn và bị ruồng rẫy, con người tranh giành, cướp bóc và giết hại lẫn nhau. Đọc báo chí hằng ngày, chúng ta thấy nhan nhản những thông tin về sự vô cảm trong xã hội, càng ngày càng nghiêm trọng. Sự vô cảm này là “lớp cặn nổi trên bề mặt xã hội” theo kiểu nói của một vị tiến sĩ khoa học, nghĩa là nó cho thấy một xã hội suy thoái nghiêm trọng về căn bản. Con người sống trong cuộc đời có liên đới với nhau. Nếu không quan tâm đến ích lợi của người khác, thì chính sự an toàn của mình cũng không được bảo đảm. Câu chuyện ngụ ngôn Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại xuất hiện từ thuở xa xưa kể về một anh chàng khi nhà hàng xóm liền vách bị cháy mà vẫn thản nhiên kéo chăn trùm đầu nằm ngủ, còn tặc lưỡi tự nhủ là cháy nhà người khác chứ có phải cháy nhà mình đâu mà sợ! Rốt cuộc, lửa cháy lan sang nhà anh ta, mọi thứ tan thành tro bụi. Lúc đó, anh ta mới tỉnh ngộ, ân hận vò đầu, bứt tai kêu khóc. Thờ ơ, lạnh nhạt đến ích kỷ như thế là tự chuốc họa vào thân. Một xã hội hoang hóa là hậu quả của thái độ dửng dưng với Thiên Chúa và khước từ giáo huấn của Ngài.
 
Để đón Chúa đang đến, người tín hữu cần phải sám hối và chuẩn bị tâm hồn. Hơn thế nữa, mỗi chúng ta cũng phải noi gương thánh Gioan Tiền Hô, trở nên những tiếng hô trong cuộc sống đang bị hoang hóa hôm nay. Dáng vẻ đơn sơ, lòng nhiệt thành và nhất là niềm xác tín của vị Tiền Hô đã làm nhiều người cảm động. Họ sám hối và khiêm tốn bước xuống dòng sống Giođanô, xin được tẩy rửa để tỏ lòng sám hối, nhờ đó mà họ được tâm hồn bình an. Nếu những người Kitô hữu chúng ta biết trở nên những tiếng hô trong cuộc đời, thì nhờ ơn phù trợ của Chúa, chúng ta sẽ làm cho sa mạc nở hoa. Chúa bảo chúng ta hãy trèo lên núi cao, hãy đứng trước cửa thành để loan báo tin vui Chúa đang hiện diện trong cuộc đời. Điều đó có nghĩa là chúng ta đừng sợ, mặc dù người Công giáo chỉ là thiểu số trong xã hội Việt Nam. Mỗi chúng ta, nhờ đời sống chứng ta can đảm, sẽ là những người dọn đường cho Chúa đến trong cuộc đời.
 
Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
 
ĐÓN CHÚA ĐẾN TRONG HOANG MẠC ĐỜI
JM, Lâm Thy,ĐVD  
Phần mở đầu bài Tin Mừng hôm nay (CN II/MV-B), thánh sử Mac-cô viết: “Trong sách ngôn sứ I-sai-a có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Đúng theo lời đó, ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.” – Mc 1, 2-4). Căn cứ theo lời trình thuật trên, sẽ cho rằng thánh Gio-an Tiền Hô rao giảng trong hoang địa, mà hoang địa là nơi hoang vắng, vậy thì thánh nhân nói với ai và để ai nghe?
 
Cứ kể suy nghĩ như vậy cũng không có gì sai. Tuy nhiên, để vấn đề sáng tỏ, cần phải đọc phối hợp thêm Tin Mừng theo thánh Lu-ca. Thánh sử Lu-ca trinh thuật rất tỉ mỉ từ khi bà Ê-li-da-bet thụ thai tới ngày hạ sinh thánh Gio-an Tẩy Giả (xc Lc 1, 5-25.57-70), kể cả thời thơ ấu thánh nhân còn sống ẩn dật trong hoang địa (“Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.” – Lc 1, 80). Mãi tới tuổi 30, mới “có lời Thiên Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a là ông Gio-an trong hoang địa. Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3, 2-4). Như vậy là đã rõ, thánh Gio-an Tẩy Giả chỉ “mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn.” (Mt 3, 4), “sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.” (Lc 1, 80).
Nhưng tại sao thánh nhân lại được gọi là “Tiếng hô trong hoang địa”? Đó là lời ngôn sứ I-sai-a – vì được Thiên Chúa mặc khải – tiên báo từ Cựu Ước (Is 40, 1-5.9-11): “Có tiếng hô: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho ĐỨC CHÚA, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu.” (Is 40, 3-4). Thiên Chúa dựng nên cả vũ trụ và con người thì sá gì sa mạc hay đồng hoang cản bước Người, khiến Người không thể đi đến với nhân loại. Điều đó là tất yếu, tuy nhiên “Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài.” (Thánh Au-gus-ti-nô), và vì thế nên Người rất cần những cộng tác viên “vạch một con lộ giữa đồng hoang tâm địa, mở một con đường trong sa mạc cuộc đời” cho Người đi.
 
Khi thấy trong lòng trống vắng, buồn tênh, chẳng biết nghĩ gì và làm gì, cũng chẳng biết tâm sự cùng ai, chúng ta vẫn thường nói: Mình đang lúc sống trong ‘hoang mạc cuộc đời’, có nói cũng chẳng ai nghe bởi tiếng nói của mình chỉ là ‘tiếng hò trong sa mạc’ mà thôi. Như vậy, tiếng “hoang địa” mà ngôn sứ I-sai-a dùng là muốn nói đến vùng đất hoang vắng của tâm hồn con người, nó khô khan, lạnh lẽo như sa mạc, xơ cứng, nứt nẻ như cánh đồng hoang vu vậy. Có như thế mới cần “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho ĐỨC CHÚA, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta”. Vâng, hoang địa ở đây chắc chắn là hoang địa tâm linh (tâm địa) rồi, và để mở một con đường, vạch một con lộ, thì phải biết “Mọi thung lũng tị hiềm phải lấp cho đầy, mọi núi đồi kiêu căng phải bạt cho thấp, mọi khúc quanh co gian hiểm phải uốn cho ngay, mọi đường lồi lõm ghét ghen phải san cho phẳng”. Chỉ có như thế mới thực lòng dọn đường cho Chúa đi.
 
Rõ ràng là hãy sám hối để thanh tẩy tâm hồn, dọn đường cho Chúa đi, đón chờ ngày quang lâm của Đấng Cứu Độ, mà sám hối tức thị là ăn năn hối cải với quyết tâm “sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối” (Lc 3, 8). Cụ thể hơn nữa, hãy theo đám đông mà chất vấn chính Tiếng-hô-trong-hoang-địa Gio-an như trình thuật Tin Mừng theo thánh Lu-ca: “Đám đông hỏi ông rằng: “Chúng tôi phải làm gì đây?” Ông trả lời: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy.” Cũng có những người thu thuế đến chịu phép rửa. Họ hỏi ông: “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?” Ông bảo họ: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho các anh.” Binh lính cũng hỏi ông: “Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì?” Ông bảo họ: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình” (Lc 3, 10-14).
 
Quả thật cái hoang mạc đời nó chỉ là một cánh đồng hoang lơ thơ vài cây lúa èo uột, nhưng lại đầy rẫy cỏ lùng. Nói cách khác, cánh đồng tâm linh thiếu vắng niềm tin, nhưng lại chứa đầy hận thù ghen ghét, tội lỗi ngập tràn. Những câu trả lời của Thánh Gio-an Tẩy Giả tưởng chừng như rất dễ thực hiện; nhưng vì “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi.” (Rm 7, 19-20), nên lại trở thành thiên nan vạn nan. Để giải quyết vấn đề, chỉ còn cách cậy nhờ Thần Khí Chúa soi sáng cho biết đâu là điều đáng làm, đâu là điều nên tránh; đồng thời liên lỉ cầu nguyện xin Người ban thêm dũng khí sẵn sàng đối diện với thử thách, quyết tâm thanh tẩy tâm hồn “nhằm tinh luyện đức tin là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giê-su Ki-tô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự.” (1Pr 1, 6-7).
 
Người Ki-tô hữu vì Tin – Cậy – Mến mà TRÔNG ĐỢI, đã hết lòng trông đợi thì hãy DỌN ĐƯỜNG cho sạch sẽ chông gai, và khi giờ đã điểm thì hãy vui mừng đứng thẳng, ngẩng cao đầu mà ĐÓN TIẾP ĐẤNG CỨU TINH, chính Người sẽ ban Thần Khí thanh tẩy hoang mạc cuộc đời người Ki-tô hữu, “Người sẽ cứu độ là tha cho hết mọi tội khiên. Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an.” (Bài ca Chúc tụng – “Benedictus” – Lc 1, 77-79). Có như thế mới hy vọng được vào “trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị. Vì thế, anh em thân mến, trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an. Và anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn chính là để anh em được cứu độ.” (2Pr 3, 13-15). Ước được như vậy. Amen./.
 
JM, Lâm Thy,ĐVD  
 
 
TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN
DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA
Lm. Vinhsơn Trần Minh Hoà
Sống trong tăm tối của phận người tội lỗi, con người khao khát được Thiên Chúa ân xá và thứ tha. Sống trong phận lưu đày khốn khổ, con người mong có ngày hồi hương và được sống an bình. Dân Do Thái đã sống tâm trạng như vậy. Tội lỗi và sự bất trung đã làm cho lòng người Do Thái xa Chúa và họ phải chịu những cảnh sống bất hạnh. Hạnh phúc thay, thời gian sống trong cảnh lầm than của họ sẽ mau qua, bởi Lời Chúa trong sách ngôn sứ Isaia đã tiên báo một thời kỳ lạc quan. Thời kỳ phục dịch của dân Do Thái đã mãn, tội của họ đã đền xong (x. Is 40, 2). Thiên Chúa sẽ đến ở giữa họ. Người sẽ quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền (x. Is 40, 10). Như hình ảnh mục tử yêu thương đoàn chiên, Chúa chăn giữ dân của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Tình thương của Thiên Chúa bao phủ dân của Người như người mục tử nhân lành dành cho đàn chiên. Lũ chiên con được Chúa ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, được Người tận tình dẫn dắt (x. Is 40, 11).
 
Thiên Chúa ở giữa con người (x. 1 Cr 14,25) và Ngôi Hai Thiên Chúa là Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (x. Ga 1,14). Tuy Thiên Chúa là Đấng quyền năng và Người không phụ thuộc vào không gian cũng như thời gian, nhưng để Chúa thực sự hiện diện trong tâm hồn, Người cần con người cộng tác. Chúa cần con người cộng tác không phải vì Thiên Chúa yếu kém, nhưng Người tôn trọng tự do của con người và cho con người có phẩm giá cao quý và khả năng để sống xứng đáng là hình ảnh của Thiên Chúa. Mặt khác, Chúa cần con người có những biểu lộ cụ thể để phận mỏng giòn của con người có thể bắt nhịp phần nào với sự cao cả của Thiên Chúa toàn năng.
Lời Chúa trong Tin Mừng theo thánh Máccô hôm nay đã giới thiệu cách cộng tác với Chúa bằng một đời sống dọn đường cho Chúa đến: “Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để người đi” (Mc 1, 2). Nơi sa mạc của cõi lòng chai đá, cần dọn một con đường của những phút hồi tâm sám hối. Chốn quanh co của cuộc sống lươn lẹo, cần vạch ra một con lộ của sự chân thật cho Thiên Chúa ngự trị. Những thung lũng thẳm sâu của tính hư nết xấu và tội lỗi, cần lấp đầy bằng những việc lành và các nhân đức. Chốn đồi núi và ghồ ghề của đời sống kiêu ngạo, cần san phẳng bằng một thái độ khiêm nhường thẳm sâu.
 
Ý thức dọn lòng cho Chúa là cần thiết, nhưng mỗi người không chỉ dọn lòng mình, mà còn được mời gọi trở nên chứng nhân dọn đường cho Chúa. Gioan Tẩy Giả là một trong những gương mẫu của đời sống chứng nhân này. Bằng đời sống hy sinh khắc khổ, bằng lời rao giảng mạnh mẽ về sự sám hối, ông đã đưa dẫn nhiều người hồi tâm trở về. Mọi người từ khắp miền Giuđêa và Giêrusalem đã đến với ông. Họ đã thú tội, và thánh Gioan đã làm phép rửa cho họ nơi sông Giođan (x. Mc 1,5). Gioan Tẩy Giả không chỉ là cầu nối, nhưng ông còn là chứng nhân đưa người khác đến với Chúa. Khi đã làm xong công việc của người dọn đường cho người khác đón nhận ơn cứu độ, Gioan Tẩy Giả đã mạnh dạn giới thiệu và rao giảng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (Mc 1, 8).
 
Trong năm phúc âm hóa đời sống giáo xứ và các cộng đoàn, các tín hữu cũng đang chờ đón Chúa đến lần thứ hai. Trong thời gian ấy, Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi sự hối cải của mỗi người, bởi Người chẳng muốn ai phải diệt vong (x. 2 Pr 3,9). Tuy nhiên, để lãnh nhận hồng ân cứu độ, các tín hữu được mời gọi sống làm sao cho Chúa thấy mỗi người sống tinh tuyền, không chi đáng trách (x. 2 Pr 3, 14).
 
Mặt khác, Thiên Chúa không dựng nên con người đơn độc, nhưng dựng nên con người sống trong cộng đoàn có nam, có nữ (x. St 1,27). Trong mỗi cộng đoàn, mỗi người có mối tương quan tội phúc với nhau. Vì thế, ngoài một đời sống dọn đường để Chúa đến với mình, mỗi người cũng có nghĩa vụ góp phần dọn đường để Chúa đến với người khác. Cũng như Chúa Giêsu Kitô khi mang thân phận con người đã chấp nhận chịu đóng đinh (x. 2 Cr 13,4). Người đã làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời (x. Cl 1,20). Gioan Tẩy Giả sống trong cộng đoàn Do Thái thời Chúa Giêsu đến. Ông đã liên đới với cộng đoàn và đã nên cầu nối để đưa nhiều người trở về với Chúa. Nhờ ông, nhiều người biết Chúa Giêsu và đến với Chúa.
 
Hôm nay, bằng lời nói và đời sống chứng nhân, Chúa cũng mời gọi các tín hữu trở nên cầu nối cho người khác đến với Chúa. Mỗi tín hữu trở nên trung gian hữu dụng không chỉ cho những các tín hữu khô khan, nguội lạnh trở về với Chúa mà còn cho những anh em lương dân nhận ra Chúa là Đấng cứu độ, là lẽ sống và hạnh phúc đời mình. Có thế, cộng đoàn giáo xứ trở thành một cộng đoàn sống động về đời sống đức tin, chan chứa tình yêu thương của đời sống bác ái và kiên trung trong đời sống đức cậy, để khi Chúa đến, mỗi người ra đón Chúa với tâm hồn hân hoan, phấn khởi và sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi (x. 1Tx 4,17).
 
Lm. Vinhsơn Trần Minh Hoà
 
NGƯỜI PHU QUÉT LÁ
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Trong Tác phẩm “ Người phu quét lá”, ĐGM Nguyễn Khảm đã ví von, đời Linh mục như người phu quét lá: “Người phu quét lá bên đường. Quét cả nắng chiều quét cả mùa thu” (Ns.Trịnh Công Sơn).
 
Người phu quét lá, hàng ngày dù mưa dầm hay nắng hạn, vẫn luôn có mặt từ sáng sớm tinh sương trên mọi nẻo đường thành phố để dọn đường sạch sẽ cho ngàn ngàn con người sắp đi qua. Linh mục, mỗi ngày cũng dọn đường tâm hồn cho con người đi đến với Thiên Chúa và để Thiên Chúa đến với con người.
 
Trong ý nghĩa đó, có thể nói Gioan Tiền Hô cũng là “Người phu quét lá” dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến với nhân loại.
 
Bước vào Mùa Vọng, chúng ta gặp lại Gioan Tiền Hô, vị ngôn sứ đi trước dọn đường và dọn lòng người để đón Đấng Cứu Thế. Thực thi sứ vụ dọn đường, Ngôn Sứ Gioan luôn gắn bó với Thiên Chúa và sống gần gũi với con người. Lời Chúa, Gioan chiêm niệm trong hoang địa qua nhiều năm tháng đã giúp ông tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều hạng người qua những vùng ven sông Giođan. Lời Chúa, Gioan nghe đã trở thành Lời Chúa ông công bố. Tiếng Chúa gọi Gioan đã trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho anh chị em mình đến với Chúa Cứu Thế.
 
Các chương từ 40-55 trong sách Tiên tri Isaia, được gọi là Sách An Ủi dân Israel. Sau khi Giêrusalem bị thất thủ, dân phải đi đầy sang Babylon, Thiên Chúa dùng Tiên tri Isaia loan báo cho dân ngày giải thoát. Vì vậy tiếng hô: “hãy mở một con đường cho Đức Chúa” (Is 40,3) là câu hoàn tất lệnh truyền của Thiên Chúa trước đó: “Hãy an ủi, an ủi dân Ta. Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giêrusalem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong” (Is 40,2). Lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả hoàn tất các lời hứa của Thiên Chúa: “Này ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con.” (Mc 1,2). Và mở đường cho ơn cứu độ phổ quát. Trước khi là một sứ điệp loan báo, Tin Mừng là một biến cố, một con người cụ thể, Đức Giêsu Kitô: Con Thiên Chúa hằng sống (Mc 15,39).
 
Thánh Máccô đã thấy rõ nơi Gioan Tẩy Giả là người thực hiện các điều mà Is 40,3 loan báo, là người giúp chuẩn bị lòng dân đón chờ Đấng Cứu Thế. Sứ điệp mà ông kêu gọi mọi người dọn lòng chuẩn bị đón Chúa đến chính là: sám hối và canh tân cuộc sống.Lòng ăn năn thống hối đích thực không hệ tại nơi những tình cảm chóng qua, hay những nghi thức bên ngoài nhưng phải phát xuất từ chính nội tâm bên trong, từ chính niềm tin mong đợi Chúa đến.
 
Gioan là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước. Sau 5 thế kỷ vắng bóng ngôn sứ, nay Gioan xuất hiện với sứ mạng Tiền Hô. Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã chết anh hùng cho sứ vụ. (x. Mt 14,3012; Mc 6,17-19). Cuộc đời Gioan là một thiên anh hùng ca, bất khuất trước cường quyền, bao dung với tội nhân.
 
Gioan có một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường. Gioan chọn con đường tu khổ chế : ăn châu chấu và mật ong rừng, uống nước lã và mặc áo da thú. Sống trong hoang địa trơ trụi, vắng người, thiếu sự sống. Nhưng chính ở đó mà Gioan đã lớn lên và trưởng thành trong sự gặp gỡ thâm trầm với Thiên Chúa.
 
Gioan nhắc lại lời tiên tri Isaia: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng” (Lc 3,5). Gioan mời dân chúng sám hối. Không thể tiếp tục sống như xưa nữa. Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ. Như thế, Gioan kêu gọi hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi. Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn. Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính.
 
Phụng vụ Chúa nhật II Mùa Vọng mời gọi chúng ta chuẩn bị con đường cho Chúa Cứu Thế ngự đến. Chúa đến là niềm vui cho toàn thể nhân loại. Nhưng để được hưởng niềm vui này, mỗi người cũng như toàn thể nhân loại phải biết dọn đường cho Người.Dọn đường là nỗ lực hoán cải bản thân, tẩy trừ tội lỗi trong đời sống; đồng thời trong xã hội, cũng cần sự hoán cải tập thể, để tình yêu và chân lý, công lý và hòa bình được ngự trị.
 
Đạo là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Đạo là ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu không có đường thì không đi đến đâu cả. Một đất nước có văn minh hay không là do hệ thống đường sá.
 
Đạo từ nguyên thuỷ luôn mang ý nghĩa trong sáng, ngay thẳng, công minh. Đạo dẫn đưa con người đến chân thiện mỹ.
Đạo là đường nên có thể nói sống đạo là sống ngoài đường, sống với người khác, sống với cuộc đời. Abraham khởi đầu sứ mạng mới bằng việc lên đường từ giã thành Ur để sang đất hứa. Và lịch sử Do thái là những chuyến xuất hành di cư, lang thang trong sa mạc, lưu đầy và mất quê hương trong một thời gian dài. Gioan rao giảng và làm phép rửa khắp mọi nẻo đường. Chúa Giêsu sống ở thế gian bằng những cuộc lên đường sang Ai cập, về Nazareth, lên sa mạc, vào đền thánh và trở lại Galilêa. Cuộc sống công khai của Chúa ít là có ba cuộc hành trình lên Giêrusalem. Và sau cùng Ngài lên đường về nhà Cha.
 
Vì là đường nên nên đạo luôn mở ra nối kết và đón nhận cuộc sống, đón nhận mọi người, không phân biệt ai với tinh thần yêu thương của Thiên Chúa. Tin Mừng chính là đạo, là con đường mà Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta đi theo Ngài.
 
Đường quan trọng nhất là đường vào cõi lòng. Gioan đã chỉ cho thấy rằng, mỗi con người đều có ít nhiều đồi núi kiêu ngạo, thung lũng ích kỷ, ghồ ghề khúc khuỷu trong các mối quan hệ. Có bao lối nghĩ quanh co, có bao tính toán lệch lạc, có những lũng sâu tăm tối thiếu vằng ánh sáng tình yêu. Sửa đường theo Gioan là sám hối. Nhìn lại con đường mình đã đi qua, sửa lại những sai lệch nếu có. Những gì cong queo hãy san cho thẳng. Những gì cao cao, cần bạt xuống thấp. Lúc đó mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa. Sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay, san cho phẳng, bạt cho thấp. Đó là sứ điệp Gioan gởi tới chúng ta trong Mùa Vọng này, để chúng ta dọn lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế.
 
Con đường mà Gioan nói tới đây chính là đường vào cõi lòng. Con đường nội tâm của mọi người. Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống để xứng đáng đón tiếp Chúa Cứu Thế.
 
Sửa đường cho Chúa đến là cần thiết và hợp lý. Khi đón tiếp một vị khách quý, người ta thường sửa sang đường sá, làm sạch đẹp nơi vị khách sẽ đến. Như thế là biểu lộ lòng kính trọng đối với vị khách. Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất. Người hạ mình đến thăm và ở lại cùng sống với thân dân của Người. Đó là hạnh phúc tuyệt vời nên cần phải dọn tâm hồn xứng đáng. Như con đường cho Chúa đi qua. Như căn nhà cho Chúa ngự tới. Chúa đứng ngoài cửa lòng và gõ cửa, ai mở thì Ngài đi vào. Con đường có thể có chông gai tội lỗi, có nổi đam mê tiền lợi danh, có những tính hư nết xấu. Cho nên trong cõi lòng đó phải có im lặng như cõi lòng Mẹ Maria ghi nhớ, suy niệm và không nói gì. Chỉ nói những lời để giúp đỡ người khác. Tâm hồn Mẹ bình an nên nghe rõ tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi. Như thế dọn đường chính là tạo im lặng cho tâm hồn để nghe được tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.
 
Dọn đường còn là tỉnh thức đợi chờ Chúa đi xa trở về. Như năm cô khôn ngoan có sẵn dầu đèn. Như những đầy tớ làm lợi những nén vàng cho chủ. Như tên lính canh thành luôn chú ý những biến chuyển chung quanh. Mỗi cá nhân, ai cũng có những tật xấu, những khuyết điểm, vị kỷ kiêu căng, tham lam đố kỵ ghen ghét lười biếng hèn nhát… Xã hội nào cũng có bất công, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ đoan, những điều ấy làm cho con người đau khổ, trì trệ, không phát triển. Dọn đường căn bản là ở trong nội tâm, sám hối để canh tân, sửa đổi để trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Những con đường, thường được làm bằng đất đá nhựa bê tông. Những con đường trên mặt đất, trên sông trên biển trên bầu trời là những con đường vật lý. Những con đường tâm lý, con đường tinh thần, con đuờng lòng người mới quan trọng hơn. Nguyễn Bá Học đã nói: đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ vì lòng người ngại núi e sông.
 
Sống đạo luôn là một thách đố đầy quyết liệt và phong phú. Hiểu đạo, tin đạo, giữ đạo xem ra khá dễ dàng vì thuộc lãnh vực cá nhân. Còn sống đạo thường khó khăn hơn vì liên quan đến tha nhân, đòi hỏi một sự quên mình, vượt thắng bản thân. Cũng như thực hiện việc dọn đường qua nghi thức sám hối bên ngoài như rửa tội, xưng tội khá dễ dàng, nhưng nếu mà trong lòng không thật tâm sám hối đưa đến canh tân bản thân, thì hành vi sám hối chỉ là việc làm lấy lệ hình thức mà thôi.
 
Sống đạo bao giờ cũng đòi hỏi nhiều cố gắng và tỉnh thức. Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan. Sống gắn bó với Thiên Chúa và gần gũi với con người. Như thế mỗi người sẽ sống đạo hôm nay với tất cả niềm vui hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân.
 
Cả cuộc đời Gioan chỉ một tâm nguyện là làm “Người phu quét lá” dọn lòng người khác cho Chúa đến. Mỗi người chúng ta cũng theo mẫu gương của Gioan trở thành “Người phu quét lá” cho chính tâm hồn mình, cho gia đình mình và rồi cho người khác nữa. Dọn đường cũng chính là lên đường theo Chúa Cứu Thế, cho nên dọn đường cho Chúa vừa là một hồng ân vừa là trách nhiệm đòi hỏi mỗi người thi hành nghiêm túc trong cuộc sống hàng ngày của mình.
 
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
DỌN ĐƯỜNG
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Để thực hiện bất cứ một chương trình hay một công trình nào, chúng ta cần phải chuẩn bị. Chuẩn bị càng chu đáo, càng đạt thành công. Để tác thành vũ trụ trong thời gian, Thiên Chúa đã quan phòng cho mọi thụ tạo hiện hữu cách lạ lùng. Vạn vật tiệm tiến phát triển qua thời gian. Để đi vào chương trình cứu độ loài người, Thiên Chúa đã đi vào lịch sử của con người trong thời gian và không gian. Thiên Chúa đã mặc khải mầu nhiệm nước trời từng bước theo sự phát triển và nhận thức của con người. Ngài hướng dẫn lịch sử của một dân tộc được tuyển chọn trong chương trình cứu độ. Từ tổ phụ Abraham, Isaac và Giacob kéo dài cả 2000 năm, cho tới Đấng Cứu Thế xuất hiện. Thiên Chúa là Alpha và Ômega, là cội rễ và là cùng đích. Ngài là chủ thời gian. Mọi loài thụ tạo được tác thành trong thời gian và không gian giới hạn.

Lịch sử của Dân Do-thái cũng là lịch sử của Ơn Cứu Độ. Dân Do-thái trải qua biết bao nhiêu thăng trầm và thử thách. Thiên Chúa luôn luôn thương yêu bao bọc chở che, cho dù lòng dân có đổi thay và phản bội. Chúa phạt rồi Chúa lại tha. Chúa cho an cư lạc nghiệp, rồi Chúa lại phạt phải đi lưu đầy vì tội lỗi phản nghịch và từ bỏ lề luật Chúa. Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia đã qua đi. Thiên Chúa luôn giữ lời đã hứa là sẽ ban Đấng Cứu Độ. Ngài sẽ giải thoát dân khỏi vùng âm u sự dữ, tội ác và sự chết. Tiên tri Isaia đã an ủi Dân Thánh là hãy an tâm, vì thời nô lệ đã chấm dứt và tội lỗi đã được ân xá. Giờ đây hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng. Cải biến tâm hồn cho tinh sạch. Sửa chữa lại những vết nhơ lầm lỗi và tránh những thói tục xấu xa. Chúa sẽ ghé mắt đoái nhìn và ban ơn cứu độ.

Chúa dùng các tiên tri để nhắc nhớ qua lời giáo huấn, giảng dạy và kêu mời. Tuy nhiên trong những cơn thử thách và đợi chờ mòn mỏi, những lời kêu gọi của các tiên tri cũng dần bị mờ nhạt và bị coi thường. Vì nhu cầu tâm linh của con người thời nào cũng thế, ưa thích lời loan báo phải nóng bỏng cần được thực hành cụ thể, áp dụng ngay và có hiệu qủa liền. Nhưng Thiên Chúa thì hành động nhẫn nại. Chờ đợi từ dòng dõi này qua dòng dõi khác, bao nhiêu tiên tri xuất hiện và bao nhiêu biến cố đã xảy ra, nhưng dân thánh vẫn chưa được nhìn thấy ơn cứu độ. Cho nên những lời mời gọi thay đổi tâm hồn chuẩn bị để chờ đợi Chúa đến không còn được chú ý và quan tâm nhiều.

Thánh Phêrô tông đồ trong thơ thứ hai đã viết: Không phải Chúa chậm trễ thi hành lời đã hứa. Người hành động nhẫn nại. Một ngày đối với Thiên Chúa như ngàn năm và ngàn năm như một ngày. Thiên Chúa vượt trên thời gian trong lịch sử của một Dân Tộc được hình thành và chuẩn bị để đón Đấng Cứu Thế. Đọc qua lịch sử dân Do-thái, chúng ta mới cảm nghiệm được tình yêu thương của Thiên Chúa bao la hải hà. Thiên Chúa đã nhẫn nại mặc khải cho dân từng bước đi để nhận biết tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Cho dù nhiều lần con người có phạm tội tầy đình, phản bội chối bỏ Chúa và tôn thờ thần ngoại bang, Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi, mở rộng vòng tay đón về và tha thứ.

Nhìn vào cuộc đời của những vị vua như Saulê, Đavid và Sôlômôn mà chính Chúa đã ưu ái chọn lựa để cai quản Dân Chúa, họ cũng đã nhiều lần sa ngã phạm tội trái lệnh Chúa. Vua Saulê về già đã từ bỏ Chúa và gây thù hành với Đavid. Vua Đavid giầu sang phú quí nhưng lại âm mưu giết hại tướng tài và lấy vợ của ông. Sôlômôn được Chúa cho khôn ngoan và giầu có. Vua có cả 700 bà vợ, 300 nàng hầu. Thế mà vua lại từ bỏ Chúa và theo thờ thần của các bà vợ. Các Vua lập đền miếu cúng bái các tà thần ngoai lai. Chúa chấp nhận tha thứ những yếu đuối và cho các vua tiếp tục cai quản dân thánh. Trong cuộc lữ hành trần thế, chúng ta cũng sẽ gặp rất nhiều cạm bẫy, thử thách và chông gai. Chúng ta phải luôn tỉnh thức để phấn đấu. Chúng ta có thể bị qụy ngã bất cứ lúc nào. Tuổi càng lớn càng có nhiều tham vọng và tính hư tật xấu khó sửa.

Bài Phúc âm, thánh Marcô giới thiệu Gioan Tẩy Giả, người được sai đến để trực tiếp dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú, ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Ông là người sống khắc khổ đến từ hoang địa. Cha mẹ ông Gioan là ông bà Giacaria và Elizabeth. Khi thầy thượng tế Giacaria dâng hương trong đền thờ, đã được thiên thần loan tin rằng vợ ông sẽ sinh một con trẻ và ông sẽ đặt tên là Gioan. Gioan sẽ đi trước Chúa để mở lối cho Đấng Cứu Thế. Gioan đã tu thân tích đức để chu toàn bổn phận của người tiền hô. Gioan đã xuất hiện để rao giảng kêu gọi mọi người chuẩn bị tâm hồn và cử hành phép rửa sám hối. Chính Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng.

Gioan biết thân phận mình là người tiền hô. Ông đã chấp nhận: Đấng đến sau tôi, quyền năng hơn tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi dây giầy cho Người. Gioan đã xuất hiện trong vai trò người sửa đường và khi Chúa Cứu Thế xuất hiện, ông đã từ từ lui vào bóng tối. Ông là chứng nhân cho sự thật và đã chết cho sự thật. Ông xứng đáng là vị tiền hô của Đấng Tối Cao.

Cũng như thời của tiên tri Isaia cách chúng ta 25 thế kỷ, lời kêu mời sám hối cũng sôi bỏng và khơi động giúp nhiều tâm hồn quay về với Chúa. Nhưng rồi lòng người lại cứ chứng nào tật đó và chẳng bao lâu lại tìm về lối mòn cũ. Con người lại đi tìm những hiện tượng hấp dẫn và mới lạ hơn, có mới nới cũ là thế. Họ lại quay lưng lại với các giới luật của Chúa để chạy theo cách sống của dân ngoại.

Hôm nay đây, nơi xã hội chúng ta đang sống cũng lặp lại lịch sử của ngàn năm về trước và xem ra tình trạng cuộc sống còn bi quan hơn. Giáo Hội thay mặt Chúa nhắc nhở chúng ta hàng năm, hàng tháng cần sự sám hối trở về. Đôi khi chúng ta cũng sốt sáng lên được ít ngày rồi qua mùa dọn đường sám hối, sau cùng mọi sự đâu lại vào đấy. Sự thật là thế, nhưng không phải vì vậy mà chúng ta có quyền bỏ cuộc. Vì cuộc sống là sự nối kết qua từng giây, từng phút và từng ngày tháng. Chúng ta đang sống ngày hôm nay trong chương trình cứu độ của Chúa. Ngày hôm qua, có thể chúng ta đã sa ngã, sai phạm và mất lòng Chúa nhưng trong giây phút này, chúng ta ý thức và nhìn vào chính tâm hồn mình. Chúng ta xét mình để biết mình đang ở bậc thang nào trên đường trọn lành và tình trạng tâm hồn chúng ta ra sao? Nhận biết được chính mình, chúng ta sẽ dễ dàng tiếp tục cuộc hành trình nên trọn lành.

Lời mời gọi của thánh Gioan Tẩy Giả là hãy dọn đường Chúa. Mỗi người chúng ta hãy chuẩn bị dọn đường cho Chúa. Suy nghĩ, giả như có vị khách quý nào đến thăm gia đình chúng ta, có lẽ chúng ta cũng dành chút ít thời gian để lau dọn, chuẩn bị phòng ốc và cơm nước để tiếp đón. Chúa sẽ ghé thăm tâm hồn, chúng ta cũng nên chuẩn bị cho Chúa một nơi êm ấm và sạch sẽ để xứng đáng đón mời Chúa. Xưa Chúa đã được sinh ra nơi máng cỏ hôi tanh nghèo nàn vì không ai đón tiếp Chúa. Hôm nay, mỗi người chúng ta hãy mở rộng cửa đón Chúa. Chúa sẽ đến và cư ngụ trong nhà và trong tâm hồn của chúng ta. Xin Chúa ban sự bình an.
 
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
ĐOÀN DÂN ĐANG MONG ĐỢI
Lm. Giuse nguyễn Hưng Lợi, CSsR
Để chuẩn bị cho Con của Thiên Chúa đến trần gian, Thiên Chúa đã dùng nhiều sứ giả đi trước dọn đường cho Chúa Giêsu. Nổi bật nhất trong các sứ giả Tin Mừng là Ông Gioan Tẩy Giả. Thánh Gioan là cầu nối để Chúa Giêsu đến gặp dân Ngài và dân Ngài gặp được Ngài qua lời giới thiệu của Gioan.
 
Đọc lại Tin Mừng, chúng ta nhận ra con người của Gioan Tẩy Giả. Ông là vị tiền hô của Chúa Cứu Thế. Cuộc đời của Gioan Tẩy Giả là một cuộc đời rất kham khổ, đầy hy sinh. Quần áo của Người chỉ là áo lông lạc đà khoác trên mình để che thân. Người mặc loại áo mà các ngôn sứ xưa vì hãm mình, khổ hạnh đã khoác lên mình để tránh gió, tránh nắng, tránh lạnh, ngang lưng Người thắt một giây da thú cho gọn ghẽ. Thức ăn chỉ là châu chấu và mật ong rừng. Người ta có cảm tưởng thánh Gioan như một người rừng. Thánh nhân ăn mặc như thế và đi khắp các vùng Giuđê, Galilê và quanh sông Gio-đan để giảng đạo. Và bởi vì mùa màng của dân chúng các vùng đó vừa mới thu hoạch xong, vụ mùa mới chưa bắt đầu. Chính vì thế, dân chúng kéo đến để nghe Gioan rao giảng rất đông ngoài sức tưởng tượng của con người. Người ta cho biết, khi nghe tin Gioan giảng đạo, nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo cũng như đời đã sai đệ tử, thuộc hạ của họ đến hỏi xem Gioan là ai? Thánh Gioan không trả lời trực tiếp những câu hỏi của họ nhưng Người chỉ mượn lời ngôn sứ Isaia để đáp lại những vấn nạn của họ: “Tôi chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, có sứ mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế”. Thánh Gioan làm phép rửa và kêu gọi người ta ăn năn sám hối, thay đổi đời sống để đón chờ Đấng Cứu Thế : “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng”.Thánh Gioan Tẩy Giả có một uy tín rất lớn khiến mọi người sẵn sàng nghe theo lời của thánh nhân giảng dạy và hết mọi hạng người đến gặp Ngài để xin Ngài chỉ dạy cách sống. Tiếp theo lời giảng của thánh Gioan Tẩy Giả, ngôn sứ Isaia trong bài đọc I hôm nay cũng loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa sẽ giải thoát dân Ngài khỏi ách nô lệ tội lỗi, đồng thời Ngài ban ơn bình an và đối xử với dân như người mục tử tốt lành đến cho chiên được sống và sống dồi dào (Ga 10, 10). Còn thánh Phêrô khuyên nhủ con người hãy tỉnh thức vì ngày Chúa đến bất thình lình như kẻ trộm, nên để đón ngáy Chúa đến kẻ có tội phải ăn năn sám hối, thay đổi đời sống, kẻ lành phải tiếp tục ăn ở thánh thiện và đạo đức.
 
Lời mời gọi của Gioan Tẩy Giả : “Hãy ăn năn sám hối” phải chăng đã lỗi thời, đã trở nên nhàm chán? Phải chăng lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả : “Hãy dọn đường cho ngay thẳng” không còn hợp thời nữa? Con người, loài người vì là loài thụ tạo vốn yếu đuối, con người vẫn còn ham mê danh vọng, ham mê xác thịt, ham của ham tiền, con người vẫn còn tính kiêu căng, ngạo mạn, vẫn còn tính ích kỷ, lười biếng, cầu toàn, bất công, tham lam. Cho nên, bao lâu con người còn mang trong người tham, sân, si thì vẫn cần những lời rao giảng, những lời khuyên để sửa đổi, để tu thân tích đức. Bao lâu con người còn tội lỗi, còn yếu đuối, bấy lâu con người cần được đổi mới, cần được thay đổi và như thế lời kêu mời của Gioan Tẩy Giả vẫn mãi mãi cần thiết, không bao giờ nhàm chán, không bao giờ lỗi thời v.v…
 
Mùa vọng là thời gian giúp chúng ta xét mình, giúp chúng ta suy nghĩ lại lối sống, cách ăn nết ở của chúng ta. Mùa vọng đặt chúng ta trước lời mời gọi khẩn thiết của Gioan Tẩy Giả : “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả giúp chúng ta cải thiện đời sống, giúp chúng ta suy nghĩ, sống theo ý Chúa và tránh những gì trái lương tâm và con đường đạo đức của chúng ta. Vâng, đời sống con người chỉ là tạm bợ. Thế gian rồi cũng mau qua. Con người một lúc nào đó rồi cũng ra đi nhưng các Kitô hữu, đời sống chỉ thay đổi chứ không mất đi (Kinh tiền tụng I lễ cầu cho các linh hồn). Chính vì thế, để chờ Chúa đến, người môn đệ của Chúa luôn phải sẵn sàng tỉnh thức, sám hối và quay trở về với Chúa, với anh em và một khi người môn đệ Chúa sống trong tình thương, hiệp nhất, hòa hợp, sống trong ân sủng là họ đã gặp được Chúa. Do đó, lời mời gọi của Gioan Tẩy Giả: “Hãy dọn đường cho Chúa, hãy sửa lối cho thẳng để Người đi” luôn vẫn còn khẩn thiết và mãi mãi quan trọng cho mỗi người.
 
Xin mượn lời của Đức Cha Raymond Bouchex để kết luận bài chia sẻ này: “…Trong Mùa Vọng, thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi chúng ta trở nên đoàn “dân đang trông đợi”. Nơi chúng ta, có rất nhiều nỡi trông chờ: trông được hạnh phúc, được viếng thăm, được khỏe mạnh, có việc làm, những điều kiện sống khá hơn, hòa hợp và yêu thương trong gia đình, được an toàn, bình an, trọng vọng, và những gì nữa tôi không biết. Xã hội đốc thúc chúng ta cứ phải đi nhanh hơn mãi, phải có liền những gì mình muốn.Đồng thời, chúng lại buộc phải đợi chờ luôn: chờ đến phiên mình ở những quầy tính tiền trong các siêu thị lớn, nơi bưu điện, ở trạm xe buýt, trong phòng chờ bác sĩ khám bệnh hay phòng cấp cứu, trên đường giao thông… Chúng ta không còn biết chờ nữa.Chờ đợi đã mất ý nghĩa của nó.Bởi vì, chờ đợi tức là trông cậy, ước mong cái làm cho mình được thỏa lòng và cái chúng ta cần có. Là vươn tới một điều gì đó hay là một ai đó”.
 
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến. Amen./.
 
GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
  1. Thánh Gioan Tẩy Giả là ai?
  2. Gioan Tẩy Giả có phải là Đấng Mêsia không?
  3. Ai là Đấng Mêsia duy nhất đích thực?
  4. Nhỏ bé trước mặt Chúa là gì?
  5. Tại sao nhiều người lại đến với Gioan Tẩy Giả?
 
Lm. Giuse nguyễn Hưng Lợi, CSsR
 
CHUẨN BỊ ĐÓN CHÚA ĐẾN
Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, CSsR
Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 1,1-8) kể lại công việc của ông Gioan Tẩy Giả. Chúa Giêsu chưa xuất hiện. Nhưng thực ra, từ đầu cho đến cuối bài, mọi chi tiết đều có liên quan đến Người và đều chỉ mang một ý hướng chính yếu là cung cấp những chỉ dẫn về vị thế và nhiệm vụ của Người.
 
Mở đầu là lời công bố Tin Mừng của Hội Thánh: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (c.1). Hạn từ “khởi đầu” (arkhè) có thể được hiểu theo nghĩa thời gian hoặc theo nghĩa nguyên nhân. Hiểu theo nghĩa thời gian, nó chỉ điểm khởi đầu của một chuỗi các biến cố và thực tại. Hiều theo nghĩa nguyên nhân, nó chỉ tính chất nguồn khởi của thực tại được đề cập. Trong c.1 này, arkhè vừa mang nghĩa thời gian vừa mang nghĩa nguyên nhân. Điều được đề cập sẽ vừa là khởi điểm vừa là nguồn khởi của Tin Mừng mà Hội Thánh loan báo.
 
Nhưng điều được đề cập ở đây là gì? Nói cách khác, hạn từ arkhè ở c.1 quy chiếu về thực tại nào? Cái gì là arkhè của Tin Mừng mà Hội Thánh đang sống và công bố? Ở đây, hạn từ này có thể quy chiếu về phần dẫn nhập của sách Mc, tức là phần kể về giai đoạn chuẩn bị cho sứ vụ của Đức Giêsu (1,2-13); hoặc quy chiếu về toàn bộ cuốn sách. Có lẽ nên ưu tiên hiểu theo cách thứ hai: công trình của Đức Giêsu (mà đỉnh điểm là cái chết và sự phục sinh) chính là khởi đầu, nguồn mạch và nền tảng của Tin Mừng mà Hội Thánh đang sống và công bố.
 
Tin Mừng được diễn đạt trong hình thức trọn vẹn: Đức Giêsu Nadarét là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Ở trung tâm của sứ điệp, như vậy, không phải là một giới luật hay một lời hứa hẹn, mà là một sự kiện thực tế, rằng con người lịch sử – cụ thể Giêsu chính là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Lời loan báo này liên quan đến căn tính của Đức Giêsu và cho chúng ta biết Ngài là ai, vừa xét trong vị thế của Ngài đối với nhân loại (“Đấng Kitô”), vừa xét trong tương quan của Ngài với Thiên Chúa (“Con Thiên Chúa”). Đối với nhân loại, Ngài là Đấng Mêsia. Hạn từ này cho thấy một cách rõ ràng công trình cứu độ của Đức Giêsu không bị giới hạn vào cảnh vực cá nhân, mà tác động trực tiếp đến cảnh vực xã hội – cộng đồng, vì Vua Mêsia là vua và là Đấng cứu độ không chỉ của một cá nhân. Đối với Thiên Chúa, Đức Giêsu ở trong tương quan rất đặc biệt: tương quan con thảo. Tất cả những kẻ đến trước đều chỉ là các đầy tớ (x.12,2-5), còn Đức Giêsu là Con yêu dấu của Ngài (x.1,1; 9,7). Mối tương quan này là thực tại riêng biệt của Đức Giêsu, làm cho Người khác hẳn tất cả mọi con người khác trong nhân loại. Mối tương quan này cũng là nền tảng của vị thế và nhiệm vụ của Người đối với thế gian.
Chuẩn bị Lễ Giáng Sinh không phải là chuẩn bị cho một lễ hội vào dịp cuối năm, mà chính yếu và thực chất là chuẩn bị để đón Đấng ấy: Người là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa. Chúng ta phải đọc lời công bố Tin Mừng của Hội Thánh ở câu đề tựa Mc 1,1 trong khung cảnh Mùa Vọng với ý thức đó.
Sau câu đề tựa (c.1) là ba đoạn văn nhằm làm sáng tỏ dung mạo của Đức Giêsu trong giai đoạn lịch sử đầu tiên của Người. Bài Tin Mừng hôm nay chỉ gồm đoạn thứ nhất (cc.2-8), nói về hoạt động của ông Gioan Tẩy Giả.
 
Trước tiên là một lời ngôn sứ được trích dẫn: “Trong sách ngôn sứ Isaia có chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con. Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (cc.2-3). Với lời trích dẫn này, tác giả Mc muốn làm nổi bật mối liên hệ với sứ điệp của Cựu Ước. Có một sự tương ứng trực tiếp giữa tiếng hô trong oang địa (Is 40,3) với sự xuất hiện của ông Gioan Tẩy Giả trong hoang địa (Mc 1,4). Sự xuất hiện và các công việc của ông Gioan đã được ngôn sứ Isaia loan báo trước, và nơi ông Gioan, chương trình của Thiên Chúa bắt đầu đi vào giai đoạn thực hiện.
 
Thực ra, dưới danh nghĩa ngôn sứ Isaia, tác giả Mc gộp vào hai bản văn khác nhau: bản thứ nhất (c.2) trích từ Xh 23,20 và Ml 3,1; bản thứ hai (c.3) trích từ Is 40,3. Nhưng trong Mc 1,2 Thiên Chúa ngỏ lời trực tiếp với Đấng đang đến, tức là với Đức Giêsu, chứ không phải với dân Israel. Biến cố Đức Giêsu đến là một biến cố có ý nghĩa đặc biệt; tính chất đặc biệt ngoại thường này được thể hiện trong sự kiện nó được chuẩn bị như là biến cố chính Thiên Chúa đến (Ml 3,1), bởi một sứ giả. Đó là điều hoàn toàn khác biệt, vì không bao giờ có ngôn sứ nào được chuẩn bị như thế. Con đường phải được chuẩn bị ở đây là con đường của Đức Chúa.
 
Rõ ràng tác giả Mc muốn khẳng định ngay từ khởi đầu rằng nơi Đức Giêsu, chính Đức Chúa đến với dân Người. Một lần nữa, chúng ta được nhắc nhở rằng sự chuẩn bị của chúng ta trong Mùa Vọng này chính là sự chuẩn bị để đón Đức Chúa. Đấng đang đến là Đức Chúa, chứ không phải là một lễ hội, cho dù là lễ hội của Đạo Chúa.
 
Đúng theo lời Kinh Thánh được trích dẫn ở cc.2-3, “Ông Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa” (c.4a). Ông có nhiệm vụ kép: kêu gọi dân chuẩn bị (cc.4-5) và rao giảng về Đấng đang đến (cc.7-8). Những mô tả về cách trang phục và ăn uống của ông Gioan (c.6) giúp cho người ta hiểu rõ hơn về ông và nhiệm vụ của ông.
 
Trước hết, ông Gioan “rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan” (cc.4b-5). Chuẩn bị đón Đức Chúa, có bốn điều phải làm: sám hối, thú tội, chịu phép rửa và được ơn tha tội. Hai yếu tố đầu nhấn mạnh sự thanh tẩy khỏi tội lỗi; hai yếu tố sau nhấn mạnh sự giao hòa với Thiên Chúa. (Đó cũng phải là hai yếu tố quan trọng trong việc chúng ta chuẩn bị đón Chúa trong Mùa Vọng này và trong suốt cuộc đời). Ông Gioan thành công rực rỡ trong nhiệm vụ: “Mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông” (c.5). Thực ra, hoạt động của ông Gioan có phần “lập dị”. Thứ nhất, ông không đến với người ta như các ngôn sứ đã làm và như chính Chúa Giêsu cũng sẽ làm. Ông ở yên trong hoang địa và mọi người kéo đến gặp ông ở đó. Thứ hai, ông Gioan làm phép rửa trong nước sông Giorđan. Bình thường, nước sông không thể được sử dụng để cử hành việc thanh tẩy theo nghi thức. Vì thế, hàng lãnh đạo tôn giáo giữ khoảng cách với công việc của ông Gioan, và dân chúng đến với ông là đang làm một hành động đặc biệt, vượt khỏi khung cảnh của những thực hành tôn giáo bình thường.
“Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng” (c.6). Cách trang phục này chứng tỏ ông Gioan chỉ sống cho một mình Thiên Chúa thôi. Thức ăn của ông hoàn toàn lấy từ hoang địa, và như thế, cắt đứt liên hệ với những sản phẩm của đất Palestina. Về thắt lưng, Gioan và Êlia là các nhân vật duy nhất trong Kinh Thánh mang thắt lưng bằng dây da, và đó là một nét khu biệt của ông Êlia. Ông Gioan được đồng hóa với ông Êlia và vì thế, mang một tầm quan trọng đặc biệt trong việc loan báo về căn tính của Đức Giêsu, Đấng đang đến. Ông Êlia là ngôn sứ chỉ hoàn toàn phục vụ Thiên Chúa, hướng trọn con người và sinh mệnh của mình về Thiên Chúa, và mọi điều ông làm chỉ là để dẫn dắt dân về với Thiên Chúa. Sự hoàn toàn tập trung vào Thiên Chúa đã là yếu tố đặc trưng làm nên dung mạo của Êlia và làm cho ông trở thành mẫu mực của các ngôn sứ. Thế mà ông Gioan lại được đồng hóa với ông! Điều đó có nghĩa là Đấng mà ông Gioan chuẩn bị dân chúng đón Người, phải là Đấng có một căn tính thật sự đặc biệt. Giống như Êlia, ông Gioan chỉ phục vụ một mình Thiên Chúa. Hành động của ông, vì thế, ngầm cho thấy phẩm giá cao cả của Đức Giêsu và chứng tỏ rằng nơi Đức Giêsu – Con Thiên Chúa, chính Thiên Chúa đang đến với dân Người.
 
Ông Gioan còn có sứ mạng rao giảng minh nhiên về Đấng đang đến. “Ông rao giảng rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (cc.7-8). Rõ ràng là xét cả về quyền năng, cả về vị thế, cả về hành động, Đấng đang đến đều hơn hẳn ông Gioan, cho dù ông được Thiên Chúa sai đến và ông được đồng hóa với ngôn sứ Êlia.
 
Như vậy, bằng việc kêu gọi dân chuẩn bị, bằng cách trang phục và ăn uống của mình, và bằng lời rao giảng minh nhiên của mình, ông Gioan đã cho ta thấy Đấng đang đến là ai. Đó là chính Đức Chúa.
 
Trong Mùa Vọng, chúng ta chuẩn bị để đón chính Đức Chúa đến viếng thăm dân Người. Đức Giêsu đến từ Thiên Chúa; nơi Ngài, chính Thiên Chúa đang đến và đón nhận tất cả nhân loại vào trong sự sống thần linh của Người.
 
Lm. Giuse Nguyễn Thể Hiện, CSsR
 
LẦM LỖI VÀ SÁM HỐI
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
Con người thường có những lỗi lầm. Lỗi lầm khiến con người trở nên xấu xa. Lỗi lầm càng nhiều thì xấu xa càng ghê sợ hơn. Thế nên, con người thường có khuynh hướng che giấu tội lỗi của mình. Đôi khi còn đóng kịch để che đậy bản tính xấu xa của mình. Sống giả dạng người tốt để đánh lừa anh em.
 
Có đôi vợ chồng nọ, mới cưới nhau về được khoảng một tuần, anh nói với vợ rằng, Xin em hứa với anh là đừng bao giờ mở cái hộp này ra, bao lâu anh đang còn sống. Người vợ gật gù đồng ý.

Sau bốn mươi năm sống chung, gia đình rất hạnh phúc. Một hôm ông đi vắng, bà ở nhà một mình, tò mò lấy cái hộp từ dưới chân giường ra, không hiểu là ông đã giấu cái gì trong hộp. Người vợ nghĩ rằng đã sống với nhau bốn mươi năm, cái gì cũng biết hết rồi, ngoài trừ cái hộp này. Bà liền mở hộp ra xem, và trong hộp có năm vỏ bia, và một trăm hai mươi lăm đồng, năm chục xu. Bà nghĩ rằng chỉ có vậy thôi mà sao ông bí mật thế.

Khi Ông đi làm về, bà liền đến tự thú với ông. Và bà hỏi ông rằng, tại sao trong hộp lại có năm vỏ bia? Ông trả lời, năm vỏ bia là tượng trưng cho mỗi lần tôi làm lỗi với bà, thì tôi uống một lon. Người vợ thấy vậy cũng vui vui, vì nghĩ rằng, sống với nhau bốn mươi năm, mà ông chỉ làm lỗi với mình chỉ có năm lần, kể cũng qúa ít.

Bà tiếp, vậy còn một trăm hai mươi lăm đồng, và năm chục xu thì sao? Ông đáp, "thì là tiền bán vỏ lon bia chứ gì." Bà.........."ố trời ơi!!!!!"
 
Hóa ra tình yêu vẫn có những phản bội. Phản bội vì yếu đuối. Phản bội vì nông cạn. Phản bội có thể xảy đến khi mình thiếu tự chủ, mất kiểm soát tình cảm dễ dẫn đến phản bội với nhau. Nhưng nếu phản bội mãi mà không nhận ra sai lỗi của mình thì thật bất hạnh cho mình và cho gia đình. Điều quan yếu là biết sám hối và đứng dậy sau những lần vấp ngã. Dẫu có muộn màng vẫn hơn. Dẫu có tái phạm vẫn còn sửa chữa vì không cố tình ở lỳ trong tội lỗi.
 
Thánh Gioan B là sứ giả của Thiên Chúa. Ông đến để sửa lại lỗi lầm cho con người. Ông đi trước Chúa để uốn lại lòng dân. Ông dọn lại những gồ ghề trong tâm hồn con người bởi những tham sân si. Ông đưa ra phương án sửa lại lỗi lẫm bằng việc sám hối ăn năn.
 
Sám là thú nhận lỗi lầm, Hối là hứa từ nay không tái phạm.  Sám Hối là thú nhận lỗi lầm, và hứa không tái phạm. Sám hối là hành động của bản thân biết nhìn ra tội lỗi của mình mà sửa đổi, mà canh tân. Không có sám hối sẽ không có những cuộc canh tân làm thay đổi đời sống và môi trường sống. Chính nhờ sám hối và bản thân được thăng tiến, mỗi trường cũng được đổi thay thêm xinh đẹp hơn.
 
Sám hối là động lực giúp con người hoàn chỉnh bản thân mình. Nhờ sám hối mà ta chỉnh tu lại con người mình thêm xinh đẹp hơn. Madalena đã từng sám hối để từ bỏ con người trắc nết mà biến đổi trở thành người đi theo Chúa. Augutino đã từng sám hối để bỏ đường rộng thênh thang chiều theo tính xác thịt mà biến đổi trờ thành một đại thánh cho Giáo hội. Có rất nhiều những con người đã đổi đời nhờ sám hối mà chỉnh tu lại lối đi của mình theo đường lối Thiên Chúa.
 
Xin Chúa giúp chúng ta biết nhìn lại những yếu đuối của bản thân mà sám hối ăn năn. Xin giúp chúng ta can đảm thực hiện hành vi sám hối bằng việc thú nhận tội lỗi của mình và tuyên hứa từ nay không tái phạm. Xin Chúa nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta và giúp chúng ta hoàn chỉnh mình mỗi ngày thêm giống Chúa hơn nhờ cuộc canh tâm sám hối từng ngày. Amen
 
Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
 
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG NĂM B
Lm. Phêrô Trần Thế Tuyên
I.  GÌAO HUẤN P.Â.:   
Gioan Tầy Giả thực thi sứ mệnh làm tiền hô, dọn đường cho Đấng Cứu Thế bằng cách kêu gọi mọi người: “Hãy dọn đường Chúa đến! Hãy san phẳng lối người đi!”
 
Dọn đường Chúa đến bằngcách chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội.
 
Gioan Tẩy giả sống trọn vẹn sứ mạng của mình bằng lối sống kham khổ: mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng, đồng thời rao giảng về “Đấng đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép Người!”
 
II.   VẤN NẠN P.Â.    
Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn.
           
Gioan Tẩy Giả, tiên tri cuối cùng trong Cựu Ước. Ông được Chúa kêu gọi để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thề, mở màn cho Tân Ước. Cả hai, Cựu Ước và Tân Ước đều phục vụ cho việc thực hiện giao ước giữa Thiên chúa và con người: Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc con người, nhưng con người phải đáp trả bằng tình yêu thương và lòng trung thành thờ phượng một mình Thiên Chúa. Để thực hiện tương quan tình yêu giữa Trời và Đất nầy. Các Tiên tri thường được kêu gọi để sống và làm những việc rất gây “ấn tượng” để nói lên sứ mệnh của mình.
            
Thí dụ Tiên Tri Giêrêmia nhận lệnh Chúa truyền để làm một cái ách đeo vào cổ.
      
Sứ điệp: Dân Do Thái mất niềm tin vào Chúa, đi liên kết và dựa vào sức mạnh của ngoại bang để rồi bị chính đồng minh bỏ rơi và bị làm nô lệ ngoại bang. Điều nầy được diễn tả trong Giêrêmia chương 27
           
“Vào đầu triều Xít-ki-gia-hu, con vua Giô-si-gia-hu, làm vua Giu-đa, có lời ĐỨC CHÚA phán với ông Giê-rê-mi-a như sau:ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng : Ngươi hãy bện dây thừng và làm một cái gông rồi đeo vào cổ. Sau đó, ngươi hãy gửi một sứ điệp cho vua Ê-đôm, vua Mô-áp, vua dân Am-mon, vua Tia, vua Xi-đôn, qua trung gian các sứ giả chúng gửi đến Giê-ru-sa-lem để gặp Xít-ki-gia-hu, vua Giu-đa. Ngươi hãy truyền lệnh cho chúng phải thưa với chủ mình rằng : "ĐỨC CHÚA các đạo binh, Thiên Chúa Ít-ra-en, phán thế này : Các ông hãy thưa với chủ của các ông như sau : Chính Ta đã làm nên cõi đất, con người và súc vật trên mặt đất, nhờ sức mạnh lớn lao và cánh tay uy quyền của Ta ; Ta ban cõi đất này cho ai vừa mắt Ta. Vậy giờ đây, chính Ta trao tất cả các xứ này vào tay Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, là tôi tớ của Ta ; ngay cả giống vật ngoài đồng, Ta cũng trao cho nó sử dụng. Mọi dân tộc sẽ phải làm tôi nó cũng như con cháu nó, cho tới khi đến thời của xứ sở nó, đến lượt nó phải làm tôi các dân tộc mạnh mẽ và các vua chúa hùng cường. Vậy, dân tộc nào hoặc vương quốc nào không làm tôi nó, tức là Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, và không chịu quàng ách của vua Ba-by-lon vào cổ mình, thì Ta sẽ dùng gươm đao, đói kém và ôn dịch mà viếng thăm dân tộc ấy - sấm ngôn của ĐỨC CHÚA - cho đến khi Ta dùng tay nó mà làm cho dân tộc ấy biến mất hoàn toàn
 
Ngôn sứ Hôsêa nhận lệnh Chúa truyền đi lấy một cô nô lệ làm vợ để giải thoát cô. Nhưng sau đó chính cô vợ nấy lại đi phản bội người chồng đã cứu mình.
 
Sứ điệp : Dân Do Thái được Chúa thương yêu giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, nhưng sau đó lại sống bất trung, phản bội Chúa đi thờ tà thần.  ĐỨC CHÚA phán với tôi : "Một lần nữa, ngươi cứ đi yêu người đàn bà đang có tình nhân và đang ngoại tình, cũng như ĐỨC CHÚA yêu thương con cái Ít-ra-en, trong khi chúng lại quay lưng đi theo các thần khác và thích bánh nho." Thế là tôi đã bỏ ra mười lăm đồng bạc, ba mươi thùng lúa mạch, để mua nàng về. Tôi bảo nàng : "Trong một thời gian dài, mình cứ ở yên cho tôi, không được đi khách, không được theo người đàn ông nào cả ; phần tôi, tôi cũng xử với mình như thế. Vì quả thật, trong một thời gian dài, con cái Ít-ra-en sẽ không có vua, không thủ lãnh, không hy lễ cũng chẳng có trụ thần, chẳng có ê-phốt và tơ-ra-phim.  Sau đó, con cái Ít-ra-en sẽ trở lại tìm kiếm ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của chúng, và tìm Đa-vít, vua của chúng. Ngày lại ngày chúng sẽ đem lòng kính sợ mà hướng về ĐỨC CHÚA và chờ mong ân huệ của Người »
 
Thiên Chúa đã chọn gọi Gioan Tẩy Giả để dọn đường, dọn lòng cho dân Do Thái đón nhận Ðấng Mêsia. Gioan là nhịp cầu giữa Cựu Ứơc và Tân Ứơc. Ông thuộc về Cựu Ước như trong Phúc Âm Luca 16,16, nhưng tay ông đã đụng đến Ðấng lập ra Tân Ước. Ông biết mình được sinh ra vào một thời điểm quan trọng trong lịch sử cứu độ, và được sinh ra cho một sứ mạng quan trọng. Gioan thực hiện sứ mệnh mình bằng việc sống trong hoang địa và  nêu gương hãm mình khắc khổ, mặc áo long lạc đả, ăn châu chấu và mật ong, thức ăn của người nghèo, của người từ bỏ thế tục. Nếp sống khổ hạnh của nhà ngôn sứ, từ bỏ mọi tiện nghi để trở thành người của Thiên Chúa để xứng đáng đón nhận Nước Trời đang gần đến. Con người phải từ bỏ chính mình, phải xa rời những tham vọng trần thế thì mới có chỗ cho Đấng Cứu Thế và đáng lãnh nhhyận ơn cứ độ.
 
Ông rao giảng rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người.”
 
Qua câu nói nầy, Gioan xác nhận rõ vai trò làm sứ giả, chuẩn bị dọn đường cho Đấng Cứu Thế của mình. Gioan muốn nói với mọi người rằng: Tôi không là Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ là tiếng kêu trong hoang địa để mọi người dọn đường đón Đấng Cứu Thế. Đấng Cứu Thế cao trọng hơn tôi và là Đấng mà muôn dân trông đợi. Đây cũng là lý do tại sao Phúc Âm Matcô bắt đầu bằng chuyện Gioan Tiền Hô chứ không bằng gia phả Chúa Cứu Thế hay chuyện Chúa Giáng Sinh như trong Phúc Âm Matthêô và Luca.  Tin Mừng Maccô được viết cho người Rôma như chúng ta đã nói trong Chúa Nhật thứ I Mùa Vọng khi nói về Thánh Sử Matcô. Theo cách thức của Rôma, khi vua Chúa hay quan lớn của triều đình đi đến đâu thì cũng đều sai quân lính hay sứ giả đi thông báo để dân chúng chuẩn bị đón tiếp cho phải đạo quân thần và Chúa tôi.
 
Nên khi viết Phúc Âm cho đọc giả Rôma, Marcô đề cập đến Gioan Tiền Hô, như một sứ giả đi trước để dọn đường Chúa đến. Người đi dọn đường chắc chắn không quan trọng cho bằng người được dọn đường. Nên ông Gioan Tẩy Giả đã phải xác nhận là “Đấng đến sau tôi thì cao trọng hơn tôi!”  Để nói lên vai trò làm sứ giả cho Đấng Cứu Thế, Gioan Tiền Hô đã trích lời tiên tri Malakia và Isia tiên báo nhiều trăm năm trước: “Này Ta sai sứ giả của Ta đến dọn đường trước mặt Ta” (Ml. 3,1), “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Is. 40,3).
 
III. THỰC HÀNH P.Â:
Nếp sống đơn giản.
Đức Giám Mục địa phận tôi thỉnh thoảng nhắc nhở anh em linh mục chúng tôi là “just live a simple life!” Hãy sống một đời sống đơn giản!   Nếp sống đơn giản làm cho chúng ta tự do và thoải mái, vì nếu không đơn giản hay duy trì một nếp sống cầu kỳ phức tạp sẽ làm chúng ta bận bịu và mất giờ về quần áo mặc hay về nơi ăn chốn ở hay về những tiện nghi vận dụng mình xài.          
 
Có một tân linh mục đã mơ ước một chiếc xe “mới cáo và đắt tiền!” Nên Cha đã phải tiêu pha nhiều tiền và nhiều ngày giờ để dò tìm, để dò giá cả. Sau cùng, Cha mua được chiếc xe mới cáo như lòng mong ước, nhưng Cha phải lái xe rất cẩn thật, sợ cọ quẹt trầy tróc, sợ dơ thảm xe và phải đậu xe chỗ thật an toàn. Nếp sống không đơn giản cho thấy chúng ta chưa dám “mặc áo lông lạc đà, chưa dám ăn châu chấu và mật ong rừng” cũng như chưa dám trình bày về một Chúa Kitô, Đấng sống đơn giản và đơn sơ đến độ “Con Người không có chỗ gối đầu!”
 
Một trong những yếu tố mà Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô quang Kiệt được mọi người quí mến là tính đơn giản trong cách ăn mặc và đơn sơ chân thành trong lời ăn tiếng nói.
 
Tôi không sao quên được hình ảnh một linh mục người Mỹ tên Hank Slevin ở trại tỵ nạn Mã Lai ngày xưa. Ngài chỉ có hai bộ đồ: quần jean xanh và áo sơ mi tay ngắn có sọc. Sau một ngày làm việc cực nhọc, lã mồ hôi, tối về, giặc đồ cũ đang mặc và xử dụng bộ đồ y chang” như vậy cho ngày mai. Nhờ nếp sống đơn sơ, không bận vướng mà Cha đã có giờ lo cho người tỵ nạn khổ sở và cần đến Cha.
 
Chúng ta được kêu gọi dọn đường cho Chúa đến
Tôi rất thích coi duyệt binh ngày lễ quốc khánh: Người ta chuẩn bị thật chu đáo tiếp đón  những chính khách và quốc khách: lễ phục đẹp và oai phong, đi đứng đều đặn, nhịp nhàng và hùng dũng và tiếp đón thật trịnh trọng và theo lễ nghi. Những chính khách và quốc khách lần lượt đến khi bắt đầu giờ khai mạc. Người đến trước nhất là người có địa vị thấp nhất và sau cùng là tổng thống, nhân vật số một cùa quốc gia. Sau quốc nghi là quốc kỳ và quốc ca. Tiếp đến, những đoàn thể và những binh chủng duyệt binh qua lễ đài danh dự có tồng thống và quốc khách đang tham dự. Thường người ta phải mất hàng mầy tháng để làm việc chuẩn bị nầy. Tất cả phải hy sinh cho ngày độc lập của quốc gia. Tất phải chuẩn bị cho ngày quốc khách, cho thề giới biết quốc gia của mình. Quốc gia trên hết!
 
Tôi được rửa tội. Tôi được học học giáo lý. Tôi thành giáo dân. Tôi thành linh mục. Tôi lãnh nhiệm vụ trong Hội đồng giáo xứ, tôi làm cha sở hay Cha xứ… Tất cả chỉ để dọn đường cho Nước Chúa hiển trị, cho danh Cha cả sáng và để cho Chúa lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé đi. Ít ai muốn mình phải nhỏ bé đi và cho Chúa lớn lên. Nhiều người trong các cộng đoàn Công Giáo đang đòi quyền ăn nói, đang đòi chỗ đứng và đang đòi… lớn lên. Xin hãy trở lại vai trò chuẩn bị cho Chúa đến. Xin hãy noi gương Thánh Gioan Tiền Hô, làm cho Chúa lớn lên và nước Chúa thống trị trong mọi tâm hồn. Trước khi làm việc gì, xin hãy tự hỏi: Việc nầy thực hiện xong thành công, người ta sẽ biết Chúa hay người ta sẽ biết tôi là người tài ba, khéo léo tổ chức?
 
Bài hát “Con đường Chúa đã đi!” của Văn Chi diễn tả đường khổ hình thập giá. Đường Chúa đi và đường chúng ta theo Chúa. Tôi còn thấy một con đường Chúa đi khác mà chúng ta phải chuẩn bị là đường thẳng ngay, bằng phẳng tức tâm hồn chính trực. Người mua bán làm ăn hay mánh mung sẽ cười khi nghe tôi nói về đường chính trực, bằng phảng. Làm ăn mà có sao nói vậy, ngay thẳng không mánh mung lừa đảo thì lấy gì mà ăn? Từ chỗ đó, thường người đi tu lâu năm mà phải ra đời thì làm ăn không sao khá nổi. Vì hiền quá! ngay thẳng quá! Dễ chạnh lòng quá! Thật khó tìm một tâm hồn chính trực hay thành thật trong xã hội bon chen ngày nay.
 
Lối sống gian xảo, lọc lừa hay bất chính của xã hội đã len lỏi vào cả trong giới nhà tu, linh mục, tu sĩ ngày nay. Người ta biện bạch bằng từ “khéo!” Có linh mục được mời ăn cơm khách, sau khi ăn xong con xin đồ ăn mang về vì ngon quá! Nhưng kỳ thực, cha không bao giờ đụng tới những thức ăn đó. Xin là vì “khéo!” lấy lòng gia chủ thôi! Một bà đã gần 80 tuổi mà mỗi lần gặp Cha xứ là bà cười híp mắt vì Cha bảo “trông bà chỉ chừng 40 là cùng!” Cha thật khéo! Nhưng Cha đã không có tâm hồn và lối sống bằng phảng và chân thật.
 
Không dễ gì, nhưng noi gương Gioan Tẩy giả vẫn hay hơn: sống thanh đạm, đơn giản, mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng; không “nổ” làm gì! Cũng chả cần “khéo!” làm chi! Chỉ cần làm cho mình thàng đường bằng phẳng, ngay thẳng và chân thật. Đó là đường Chúa sẽ đi đến với chúng ta.
 

 

Tác giả bài viết: Lm. Phêrô Trần Thế Tuyên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn