SỐNG TRƯỚC MẶT THIÊN CHÚA, ĐỪNG SỐNG ĐỂ ĐƯỢC NGƯỜI ĐỜI KÍNH TRỌNG.
- Thứ sáu - 16/10/2026 09:11
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Sống đạo, nếu đi đến cùng chiều sâu của nó, chẳng phải là chuyện giữ cho đủ các việc bề ngoài để người ta nhìn vào mà khen, cũng chẳng phải là chuyện tích lũy cho mình một danh tiếng đạo đức để đời này được nể, được trọng, được tin cậy. Sống đạo là sống một mối tương quan. Mối tương quan ấy có một chiều hướng rất rõ: hướng về Thiên Chúa, đứng trước mặt Thiên Chúa, thưa với Thiên Chúa, lắng nghe Thiên Chúa, và để cho chính Thiên Chúa uốn nắn đời mình từ bên trong. Khi mối tương quan ấy còn sống, con người còn biết mình là ai trước mặt Đấng đã dựng nên mình, còn biết mình được yêu trước khi mình làm được điều gì, còn biết mình được gọi không phải để phô diễn mà để thuộc về. Nhưng chính vì mối tương quan ấy được người đời kính trọng, nên nó rất dễ bị biến chất. Người ta kính trọng kẻ siêng năng nhà thờ, kính trọng kẻ nói năng đạo đức, kính trọng kẻ có chức vụ trong cộng đoàn, kính trọng kẻ biết tổ chức, biết quyên góp, biết xuất hiện đúng chỗ đúng lúc. Lòng kính trọng ấy vốn không xấu. Nó là một dấu chỉ tự nhiên của đời sống chung. Thế nhưng khi lòng kính trọng ấy trở thành mục tiêu, khi người ta bắt đầu sống để được kính trọng, thì mối tương quan với Thiên Chúa bị đẩy lui xuống hàng thứ yếu, và đời sống đạo dần dần biến thành một phương tiện. Phương tiện để gây uy tín. Phương tiện để được tin. Phương tiện để được giao việc. Phương tiện để được lợi. Phương tiện để che những toan tính mà nếu nói thẳng ra thì chẳng ai dám nhận. Từ chỗ ấy, giả hình nảy sinh không phải như một quyết định đột ngột trong một buổi sáng nào đó, mà như một sự trượt rất chậm, rất khéo, rất khó nhận ra, vì bề ngoài mọi sự vẫn còn đẹp, vẫn còn đúng giờ, vẫn còn đúng lời, vẫn còn đúng nghi thức.
Người sống giả hình không nhất thiết là người bỏ nhà thờ. Trái lại, người ấy có thể có mặt rất đều. Người ấy không nhất thiết nói năng tục tĩu. Trái lại, người ấy có thể nói rất hay về Thiên Chúa, về lòng thương xót, về sự khiêm nhường, về việc phục vụ. Điều làm cho đời sống ấy biến chất nằm ở chỗ hướng nhìn. Người ấy sống trước mặt người đời nhiều hơn sống trước mặt Thiên Chúa. Người ấy cân nhắc lời nói sao cho vừa tai người nghe, cân nhắc cử chỉ sao cho vừa mắt người xem, cân nhắc việc lành sao cho có người chứng kiến. Khi không có ai nhìn, lòng ấy nguội. Khi có người nhìn, lòng ấy bừng lên một cách lạ. Sự bừng lên ấy không phải là nhiệt thành, mà là nhu cầu được công nhận. Và một khi nhu cầu được công nhận chiếm chỗ của lòng kính sợ Thiên Chúa, thì mọi việc đạo đức, dù có đúng hình thức đến đâu, cũng chỉ còn là lớp vỏ. Lớp vỏ ấy có thể dày. Có thể được chăm chút nhiều năm. Có thể khiến cả một cộng đoàn tin. Nhưng bên trong, mối tương quan đã đứt. Người ấy không còn thưa với Thiên Chúa như một người con thưa với cha. Người ấy trình diễn trước Thiên Chúa như trình diễn trước một khán giả mà mình tưởng có thể đánh lừa được.
Chính vì thế mà thói đạo đức giả được ví như một thứ men. Men không ồn ào. Men không chiếm chỗ ngay từ đầu. Men len vào bột, và từ từ làm cả khối dậy lên theo một hướng khác với hướng người ta tưởng. Thói đạo đức giả cũng vậy. Nó không bắt đầu bằng một lời nói dối trắng trợn. Nó bắt đầu bằng một chút chỉnh sửa cho đẹp. Một chút giấu đi điều chưa đẹp. Một chút kể công. Một chút so sánh mình với người khác để thấy mình hơn. Một chút dùng danh Thiên Chúa để bênh vực ý riêng. Một chút biến việc phục vụ thành chỗ đứng. Rồi dần dần, cả đời sống đạo dậy men theo hướng ấy. Người ta vẫn đọc kinh, vẫn dự lễ, vẫn làm việc bác ái, nhưng tất cả đã bị nhiễm một mùi khác: mùi của sự tính toán, mùi của lòng sợ mất mặt, mùi của ước muốn được đời này công nhận. Và điều nguy hiểm hơn hết là người nhiễm men ấy thường không biết mình đang nhiễm. Họ tưởng mình đang nhiệt thành. Họ tưởng mình đang bảo vệ sự thánh. Họ tưởng mình đang hơn kẻ khác vì mình giữ luật kỹ hơn, nói đúng hơn, xuất hiện nhiều hơn. Sự tưởng ấy chính là lớp men đã dậy. Nó làm cho người ta không còn khả năng xét mình trước mặt Thiên Chúa, vì mọi sự xét mình đã bị thay bằng sự xét nét người khác.
Phải tránh xa thói ấy không phải chỉ vì nó xấu trước mắt người đời, dù quả thật giả dối trước sau gì cũng bại lộ. Có những điều giấu được một năm, giấu được mười năm, giấu được cả một đời trước mặt một số người. Nhưng không có điều gì giấu được mãi trước mặt mọi người, và càng không có điều gì giấu được trước mặt Thiên Chúa. Lời nói khéo có thể che một lúc. Việc làm đẹp có thể che một lúc. Danh tiếng có thể che một lúc. Rồi một ngày, một sơ hở nhỏ, một cơn nóng giận, một tính toán lộ ra, một lợi lộc bị đòi, và cả khối men ấy xẹp xuống. Người đời lúc ấy thất vọng, có khi còn chua chát hơn vì đã từng kính trọng. Nhưng sự bại lộ trước mặt người đời vẫn chưa phải là điều nặng nhất. Điều nặng nhất là giả dối không che được mắt Chúa. Chúa thấu biết mọi sự, không phải theo kiểu một người canh gác ngồi rình để bắt lỗi, mà theo kiểu Đấng ở trong tận cùng lòng người, Đấng biết động lực trước khi việc làm thành hình, Đấng biết lời thưa trong phòng kín trước khi lời ấy được nói ra giữa đám đông. Sống trước mặt một Đấng như thế mà vẫn cố giữ bộ mặt, thì chẳng những vô ích, mà còn là một sự khinh suất đối với chính tình yêu. Vì tình yêu không cần mặt nạ. Tình yêu cần sự thật.
Vì thế phải luôn sống ngay thẳng. Ngay thẳng không phải là sống thô. Không phải là nói mọi điều mình nghĩ mà không cần xét nó có xây dựng hay không. Ngay thẳng là để cho bên trong và bên ngoài gặp nhau trước mặt Thiên Chúa. Điều mình làm khi có người xem và điều mình làm khi chỉ có một mình không được là hai con người khác nhau. Lời mình nói về lòng thương xót và cách mình đối xử với người yếu thế không được mâu thuẫn. Lời mình cầu nguyện và điều mình toan tính trong lòng không được đi hai ngả. Sống công chính là sống cho đúng mối tương quan ấy. Công chính không phải là hoàn hảo theo nghĩa không còn thiếu sót. Công chính là đứng đúng chỗ: nhận mình là thụ tạo, nhận mình được yêu, nhận mình cần được tha, và từ chỗ ấy mà làm điều ngay, nói điều thật, giữ điều đã hứa, không lấy danh Chúa để trục lợi, không lấy việc đạo để mua danh. Người công chính vẫn có thể vấp. Nhưng khi vấp, người ấy không dựng thêm một lớp vỏ để che. Người ấy trở về. Trở về là dấu của sự công chính, còn dựng vỏ là dấu của sự giả hình.
Sống công chính có thể bị thiệt thòi trước mặt người đời. Điều này cần được nói rõ, vì nếu không nói rõ, người ta sẽ tưởng sống ngay thẳng là một cách khôn ngoan để được lợi nhiều hơn. Không phải vậy. Có những lúc nói thật làm mất một cơ hội. Có những lúc từ chối một việc làm lệch lạc khiến người ta mất chức, mất mối, mất tiếng. Có những lúc không chịu nhập cuộc với một sự dối trá tập thể khiến người ta bị cô lập. Có những lúc giữ sự trong sạch của mối tương quan với Thiên Chúa khiến người ta không được lòng những kẻ đang cầm quyền trong một cộng đoàn, trong một xứ đạo, trong một hội đoàn. Người đời thường thưởng cho sự khéo, không thường thưởng cho sự ngay. Người khéo biết nói điều người ta muốn nghe. Người ngay nói điều cần nói, dù người ta không muốn nghe. Vì thế người công chính nhiều khi không được lợi lộc gì, và có khi còn bị bắt bớ, bị nói xấu, bị gán cho những động cơ không có, bị đẩy ra ngoài, bị hành hạ trong danh dự trước khi bị hành hạ trong thân xác. Trong lịch sử của những kẻ thuộc về Thiên Chúa, điều ấy không phải là ngoại lệ. Nó là một khả năng luôn mở. Ai bước vào mối tương quan với Thiên Chúa mà mong rằng đời này sẽ trả công bằng sự an toàn và tiếng khen, thì người ấy chưa hiểu mình đang bước vào đâu.
Giả hình, nhìn từ phía ấy, là một sự hèn nhát. Không phải hèn nhát theo nghĩa run trước đau khổ thể lý, vì có những người giả hình rất gan trong việc tính toán. Hèn nhát ở đây là sợ người đời hơn sợ Thiên Chúa. Sợ mất mặt hơn sợ mất linh hồn. Sợ bị chê hơn sợ làm mất lòng Đấng đã yêu mình. Sợ đám đông hơn sợ sự thật. Nỗi sợ ấy khiến người ta uốn lời, uốn việc, uốn cả lòng mình cho vừa một tiêu chuẩn không phải của Thiên Chúa. Công chính thì ngược lại. Công chính không phải là không biết sợ. Công chính là biết sợ đúng Đấng đáng sợ. Chỉ sợ Thiên Chúa. Sợ theo nghĩa kính sợ, nghĩa là không dám lấy tình yêu của Người ra để mua bán, không dám đứng trước mặt Người mà diễn, không dám biến nhà của Người thành nơi gây uy tín cho mình. Người chỉ sợ Thiên Chúa thì được tự do trước mặt người đời. Không phải tự do theo kiểu coi thường mọi người, mà tự do theo kiểu không còn bị lời khen lời chê cầm giữ. Lời khen không làm người ấy phình ra. Lời chê không làm người ấy gãy. Vì cả hai đều không phải là chuẩn. Chuẩn là mối tương quan. Sống đúng mối tương quan ấy thì dù đời này có nhìn nhận hay không, người ấy vẫn đứng vững.
Người giả hình, nếu đi đến cùng lối ấy, chỉ được đời này mà mất đời sau. Được đời này theo nghĩa được tiếng, được lợi, được chỗ đứng, được sự nể nang trong một thời gian. Mất đời sau không phải vì Thiên Chúa hẹp hòi, mà vì chính người ấy đã chọn một kho tàng không còn lại gì khi mọi sự bề ngoài đổ xuống. Đời sau không cộng điểm cho những buổi xuất hiện. Đời sau không cộng điểm cho những lời hay được nói để người ta vỗ tay. Đời sau nhìn đến điều đã thực sự xảy ra trong tương quan: có yêu hay không, có thật hay không, có thuộc về hay chỉ mượn danh. Người công chính có thể mất đời này. Mất chức. Mất của. Mất tiếng. Mất cả mạng. Nhưng được đời sau, vì điều người ấy giữ lại chính là điều không mất: mình vẫn là mình trước mặt Thiên Chúa, mình không đánh đổi mối tương quan lấy một cái giá của đời này. Nhưng còn hơn cả chuyện được đời sau như một phần thưởng để sau này nhận, người công chính được Thiên Chúa yêu thương ngay trong đời này. Được quan phòng. Được chăm sóc. Không phải chăm sóc theo nghĩa mọi sự sẽ êm, mọi cửa sẽ mở, mọi kẻ thù sẽ im. Chăm sóc theo nghĩa không một sợi tóc nào rơi ngoài cái nhìn của Người, không một nỗi sợ nào phải mang một mình, không một sự thiệt thòi nào vì sống ngay mà bị Người bỏ quên. Được tình yêu của Thiên Chúa. Và được chính Thiên Chúa. Đó mới là hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là cảm giác dễ chịu kéo dài. Hạnh phúc là được ở trong tương quan đúng, được biết mình không bị bỏ, được biết giá trị của mình không do đám đông ấn định.
Chim sẻ là loài rẻ. Người ta bán từng chùm, vài con được một giá chẳng đáng kể. Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. Nếu một loài bé nhỏ, không tên, không địa vị, không tiếng nói trước mặt người đời, mà vẫn nằm trong cái nhìn của Đấng dựng nên nó, thì con người, kẻ được dựng nên để tương quan, kẻ được gọi bằng tên, càng không thể bị bỏ quên. Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được mối tương quan. Đừng sợ những kẻ lấy tiếng xấu làm vũ khí. Đừng sợ những kẻ dùng lợi lộc để mua sự im lặng. Anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ. Quý không phải vì anh em giữ luật giỏi hơn. Quý vì anh em là con. Và một khi đã là con, thì sống công chính không phải là cố để được quý, mà là sống cho xứng với điều mình đã được quý.
Để giúp ta dễ dàng sống công chính, không phải bằng sức riêng của một ý chí luôn dễ mệt, Thiên Chúa đã gửi Con Một của Người xuống thế. Không gửi một bộ luật mới để ta cố giữ cho đủ rồi tự hào. Không gửi một gương mẫu để ta bắt chước từ bên ngoài rồi vẫn còn là chính mình ở bên trong. Gửi chính Con. Để ai tin vào Người thì được nên công chính, không phải bằng cách tự tuyên bố mình công chính, mà bằng cách được kéo vào trong tương quan của Người với Cha. Tin ở đây không phải là gật đầu với một vài câu đúng. Tin là trao cả đời mình cho Đấng đã đến, đã sống ngay thẳng giữa một thế gian đầy men giả hình, đã không sợ người đời, đã không lấy danh Cha để trục lợi, đã chịu mất đời này để mối tương quan không bị đứt. Trong Người, Thiên Chúa đã chọn chúng ta từ trước khi chúng ta kịp làm một việc lành nào để khoe. Chọn không phải vì ta đẹp. Chọn để làm cho ta được đẹp bằng sự thật. Trong Người, ta được nghe lời chân lý, lời không phải là một bài diễn văn khéo, mà là Tin Mừng cứu độ, tức là tin rằng mình được tha, được nhận, được dựng lại, không cần phải diễn trước mặt ai. Và vẫn trong Người, một khi đã tin, ta được đóng ấn bằng Thánh Thần. Ấn ấy không phải là một dấu bên ngoài để người đời nhìn mà kính. Ấn ấy là bảo chứng của phần gia nghiệp. Gia nghiệp không phải là danh tiếng đời này. Gia nghiệp là chính Thiên Chúa, là được ở trong tương quan mãi mãi, là không còn phải sợ mất điều mình đã được ban.
Vì thế sống đạo, nếu muốn khỏi biến chất, phải được kéo trở lại mỗi ngày về cái chỗ ban đầu ấy. Không phải chỗ của uy tín. Chỗ của tương quan. Mỗi lần thấy mình bắt đầu cân lời cho vừa tai người ta, phải dừng. Mỗi lần thấy mình làm một việc lành mà lòng đã kịp tính đến chuyện ai sẽ biết, phải dừng. Mỗi lần thấy mình nóng mặt khi bị quên, bị không mời, bị không khen, phải xét lại xem mình đang sợ ai. Men giả hình không bị đuổi bằng một quyết tâm dữ dội trong một ngày. Nó bị đuổi bằng sự trở về đều đặn trước mặt Đấng thấu suốt, bằng việc chịu thua cái tôi muốn được nể, bằng việc chấp nhận thiệt thòi nhỏ của hôm nay để khỏi mất tương quan của cả đời. Người nào chịu sống như thế sẽ không luôn được đời này trọng. Nhưng người ấy được điều mà mọi sự trọng vọng của đời này không mua được: được chính Thiên Chúa, được tình yêu không cần mặt nạ, được gia nghiệp không ai lấy mất, và được đứng thẳng, không sợ, vì mình không còn gì phải che.
Người sống giả hình không nhất thiết là người bỏ nhà thờ. Trái lại, người ấy có thể có mặt rất đều. Người ấy không nhất thiết nói năng tục tĩu. Trái lại, người ấy có thể nói rất hay về Thiên Chúa, về lòng thương xót, về sự khiêm nhường, về việc phục vụ. Điều làm cho đời sống ấy biến chất nằm ở chỗ hướng nhìn. Người ấy sống trước mặt người đời nhiều hơn sống trước mặt Thiên Chúa. Người ấy cân nhắc lời nói sao cho vừa tai người nghe, cân nhắc cử chỉ sao cho vừa mắt người xem, cân nhắc việc lành sao cho có người chứng kiến. Khi không có ai nhìn, lòng ấy nguội. Khi có người nhìn, lòng ấy bừng lên một cách lạ. Sự bừng lên ấy không phải là nhiệt thành, mà là nhu cầu được công nhận. Và một khi nhu cầu được công nhận chiếm chỗ của lòng kính sợ Thiên Chúa, thì mọi việc đạo đức, dù có đúng hình thức đến đâu, cũng chỉ còn là lớp vỏ. Lớp vỏ ấy có thể dày. Có thể được chăm chút nhiều năm. Có thể khiến cả một cộng đoàn tin. Nhưng bên trong, mối tương quan đã đứt. Người ấy không còn thưa với Thiên Chúa như một người con thưa với cha. Người ấy trình diễn trước Thiên Chúa như trình diễn trước một khán giả mà mình tưởng có thể đánh lừa được.
Chính vì thế mà thói đạo đức giả được ví như một thứ men. Men không ồn ào. Men không chiếm chỗ ngay từ đầu. Men len vào bột, và từ từ làm cả khối dậy lên theo một hướng khác với hướng người ta tưởng. Thói đạo đức giả cũng vậy. Nó không bắt đầu bằng một lời nói dối trắng trợn. Nó bắt đầu bằng một chút chỉnh sửa cho đẹp. Một chút giấu đi điều chưa đẹp. Một chút kể công. Một chút so sánh mình với người khác để thấy mình hơn. Một chút dùng danh Thiên Chúa để bênh vực ý riêng. Một chút biến việc phục vụ thành chỗ đứng. Rồi dần dần, cả đời sống đạo dậy men theo hướng ấy. Người ta vẫn đọc kinh, vẫn dự lễ, vẫn làm việc bác ái, nhưng tất cả đã bị nhiễm một mùi khác: mùi của sự tính toán, mùi của lòng sợ mất mặt, mùi của ước muốn được đời này công nhận. Và điều nguy hiểm hơn hết là người nhiễm men ấy thường không biết mình đang nhiễm. Họ tưởng mình đang nhiệt thành. Họ tưởng mình đang bảo vệ sự thánh. Họ tưởng mình đang hơn kẻ khác vì mình giữ luật kỹ hơn, nói đúng hơn, xuất hiện nhiều hơn. Sự tưởng ấy chính là lớp men đã dậy. Nó làm cho người ta không còn khả năng xét mình trước mặt Thiên Chúa, vì mọi sự xét mình đã bị thay bằng sự xét nét người khác.
Phải tránh xa thói ấy không phải chỉ vì nó xấu trước mắt người đời, dù quả thật giả dối trước sau gì cũng bại lộ. Có những điều giấu được một năm, giấu được mười năm, giấu được cả một đời trước mặt một số người. Nhưng không có điều gì giấu được mãi trước mặt mọi người, và càng không có điều gì giấu được trước mặt Thiên Chúa. Lời nói khéo có thể che một lúc. Việc làm đẹp có thể che một lúc. Danh tiếng có thể che một lúc. Rồi một ngày, một sơ hở nhỏ, một cơn nóng giận, một tính toán lộ ra, một lợi lộc bị đòi, và cả khối men ấy xẹp xuống. Người đời lúc ấy thất vọng, có khi còn chua chát hơn vì đã từng kính trọng. Nhưng sự bại lộ trước mặt người đời vẫn chưa phải là điều nặng nhất. Điều nặng nhất là giả dối không che được mắt Chúa. Chúa thấu biết mọi sự, không phải theo kiểu một người canh gác ngồi rình để bắt lỗi, mà theo kiểu Đấng ở trong tận cùng lòng người, Đấng biết động lực trước khi việc làm thành hình, Đấng biết lời thưa trong phòng kín trước khi lời ấy được nói ra giữa đám đông. Sống trước mặt một Đấng như thế mà vẫn cố giữ bộ mặt, thì chẳng những vô ích, mà còn là một sự khinh suất đối với chính tình yêu. Vì tình yêu không cần mặt nạ. Tình yêu cần sự thật.
Vì thế phải luôn sống ngay thẳng. Ngay thẳng không phải là sống thô. Không phải là nói mọi điều mình nghĩ mà không cần xét nó có xây dựng hay không. Ngay thẳng là để cho bên trong và bên ngoài gặp nhau trước mặt Thiên Chúa. Điều mình làm khi có người xem và điều mình làm khi chỉ có một mình không được là hai con người khác nhau. Lời mình nói về lòng thương xót và cách mình đối xử với người yếu thế không được mâu thuẫn. Lời mình cầu nguyện và điều mình toan tính trong lòng không được đi hai ngả. Sống công chính là sống cho đúng mối tương quan ấy. Công chính không phải là hoàn hảo theo nghĩa không còn thiếu sót. Công chính là đứng đúng chỗ: nhận mình là thụ tạo, nhận mình được yêu, nhận mình cần được tha, và từ chỗ ấy mà làm điều ngay, nói điều thật, giữ điều đã hứa, không lấy danh Chúa để trục lợi, không lấy việc đạo để mua danh. Người công chính vẫn có thể vấp. Nhưng khi vấp, người ấy không dựng thêm một lớp vỏ để che. Người ấy trở về. Trở về là dấu của sự công chính, còn dựng vỏ là dấu của sự giả hình.
Sống công chính có thể bị thiệt thòi trước mặt người đời. Điều này cần được nói rõ, vì nếu không nói rõ, người ta sẽ tưởng sống ngay thẳng là một cách khôn ngoan để được lợi nhiều hơn. Không phải vậy. Có những lúc nói thật làm mất một cơ hội. Có những lúc từ chối một việc làm lệch lạc khiến người ta mất chức, mất mối, mất tiếng. Có những lúc không chịu nhập cuộc với một sự dối trá tập thể khiến người ta bị cô lập. Có những lúc giữ sự trong sạch của mối tương quan với Thiên Chúa khiến người ta không được lòng những kẻ đang cầm quyền trong một cộng đoàn, trong một xứ đạo, trong một hội đoàn. Người đời thường thưởng cho sự khéo, không thường thưởng cho sự ngay. Người khéo biết nói điều người ta muốn nghe. Người ngay nói điều cần nói, dù người ta không muốn nghe. Vì thế người công chính nhiều khi không được lợi lộc gì, và có khi còn bị bắt bớ, bị nói xấu, bị gán cho những động cơ không có, bị đẩy ra ngoài, bị hành hạ trong danh dự trước khi bị hành hạ trong thân xác. Trong lịch sử của những kẻ thuộc về Thiên Chúa, điều ấy không phải là ngoại lệ. Nó là một khả năng luôn mở. Ai bước vào mối tương quan với Thiên Chúa mà mong rằng đời này sẽ trả công bằng sự an toàn và tiếng khen, thì người ấy chưa hiểu mình đang bước vào đâu.
Giả hình, nhìn từ phía ấy, là một sự hèn nhát. Không phải hèn nhát theo nghĩa run trước đau khổ thể lý, vì có những người giả hình rất gan trong việc tính toán. Hèn nhát ở đây là sợ người đời hơn sợ Thiên Chúa. Sợ mất mặt hơn sợ mất linh hồn. Sợ bị chê hơn sợ làm mất lòng Đấng đã yêu mình. Sợ đám đông hơn sợ sự thật. Nỗi sợ ấy khiến người ta uốn lời, uốn việc, uốn cả lòng mình cho vừa một tiêu chuẩn không phải của Thiên Chúa. Công chính thì ngược lại. Công chính không phải là không biết sợ. Công chính là biết sợ đúng Đấng đáng sợ. Chỉ sợ Thiên Chúa. Sợ theo nghĩa kính sợ, nghĩa là không dám lấy tình yêu của Người ra để mua bán, không dám đứng trước mặt Người mà diễn, không dám biến nhà của Người thành nơi gây uy tín cho mình. Người chỉ sợ Thiên Chúa thì được tự do trước mặt người đời. Không phải tự do theo kiểu coi thường mọi người, mà tự do theo kiểu không còn bị lời khen lời chê cầm giữ. Lời khen không làm người ấy phình ra. Lời chê không làm người ấy gãy. Vì cả hai đều không phải là chuẩn. Chuẩn là mối tương quan. Sống đúng mối tương quan ấy thì dù đời này có nhìn nhận hay không, người ấy vẫn đứng vững.
Người giả hình, nếu đi đến cùng lối ấy, chỉ được đời này mà mất đời sau. Được đời này theo nghĩa được tiếng, được lợi, được chỗ đứng, được sự nể nang trong một thời gian. Mất đời sau không phải vì Thiên Chúa hẹp hòi, mà vì chính người ấy đã chọn một kho tàng không còn lại gì khi mọi sự bề ngoài đổ xuống. Đời sau không cộng điểm cho những buổi xuất hiện. Đời sau không cộng điểm cho những lời hay được nói để người ta vỗ tay. Đời sau nhìn đến điều đã thực sự xảy ra trong tương quan: có yêu hay không, có thật hay không, có thuộc về hay chỉ mượn danh. Người công chính có thể mất đời này. Mất chức. Mất của. Mất tiếng. Mất cả mạng. Nhưng được đời sau, vì điều người ấy giữ lại chính là điều không mất: mình vẫn là mình trước mặt Thiên Chúa, mình không đánh đổi mối tương quan lấy một cái giá của đời này. Nhưng còn hơn cả chuyện được đời sau như một phần thưởng để sau này nhận, người công chính được Thiên Chúa yêu thương ngay trong đời này. Được quan phòng. Được chăm sóc. Không phải chăm sóc theo nghĩa mọi sự sẽ êm, mọi cửa sẽ mở, mọi kẻ thù sẽ im. Chăm sóc theo nghĩa không một sợi tóc nào rơi ngoài cái nhìn của Người, không một nỗi sợ nào phải mang một mình, không một sự thiệt thòi nào vì sống ngay mà bị Người bỏ quên. Được tình yêu của Thiên Chúa. Và được chính Thiên Chúa. Đó mới là hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là cảm giác dễ chịu kéo dài. Hạnh phúc là được ở trong tương quan đúng, được biết mình không bị bỏ, được biết giá trị của mình không do đám đông ấn định.
Chim sẻ là loài rẻ. Người ta bán từng chùm, vài con được một giá chẳng đáng kể. Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. Nếu một loài bé nhỏ, không tên, không địa vị, không tiếng nói trước mặt người đời, mà vẫn nằm trong cái nhìn của Đấng dựng nên nó, thì con người, kẻ được dựng nên để tương quan, kẻ được gọi bằng tên, càng không thể bị bỏ quên. Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được mối tương quan. Đừng sợ những kẻ lấy tiếng xấu làm vũ khí. Đừng sợ những kẻ dùng lợi lộc để mua sự im lặng. Anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ. Quý không phải vì anh em giữ luật giỏi hơn. Quý vì anh em là con. Và một khi đã là con, thì sống công chính không phải là cố để được quý, mà là sống cho xứng với điều mình đã được quý.
Để giúp ta dễ dàng sống công chính, không phải bằng sức riêng của một ý chí luôn dễ mệt, Thiên Chúa đã gửi Con Một của Người xuống thế. Không gửi một bộ luật mới để ta cố giữ cho đủ rồi tự hào. Không gửi một gương mẫu để ta bắt chước từ bên ngoài rồi vẫn còn là chính mình ở bên trong. Gửi chính Con. Để ai tin vào Người thì được nên công chính, không phải bằng cách tự tuyên bố mình công chính, mà bằng cách được kéo vào trong tương quan của Người với Cha. Tin ở đây không phải là gật đầu với một vài câu đúng. Tin là trao cả đời mình cho Đấng đã đến, đã sống ngay thẳng giữa một thế gian đầy men giả hình, đã không sợ người đời, đã không lấy danh Cha để trục lợi, đã chịu mất đời này để mối tương quan không bị đứt. Trong Người, Thiên Chúa đã chọn chúng ta từ trước khi chúng ta kịp làm một việc lành nào để khoe. Chọn không phải vì ta đẹp. Chọn để làm cho ta được đẹp bằng sự thật. Trong Người, ta được nghe lời chân lý, lời không phải là một bài diễn văn khéo, mà là Tin Mừng cứu độ, tức là tin rằng mình được tha, được nhận, được dựng lại, không cần phải diễn trước mặt ai. Và vẫn trong Người, một khi đã tin, ta được đóng ấn bằng Thánh Thần. Ấn ấy không phải là một dấu bên ngoài để người đời nhìn mà kính. Ấn ấy là bảo chứng của phần gia nghiệp. Gia nghiệp không phải là danh tiếng đời này. Gia nghiệp là chính Thiên Chúa, là được ở trong tương quan mãi mãi, là không còn phải sợ mất điều mình đã được ban.
Vì thế sống đạo, nếu muốn khỏi biến chất, phải được kéo trở lại mỗi ngày về cái chỗ ban đầu ấy. Không phải chỗ của uy tín. Chỗ của tương quan. Mỗi lần thấy mình bắt đầu cân lời cho vừa tai người ta, phải dừng. Mỗi lần thấy mình làm một việc lành mà lòng đã kịp tính đến chuyện ai sẽ biết, phải dừng. Mỗi lần thấy mình nóng mặt khi bị quên, bị không mời, bị không khen, phải xét lại xem mình đang sợ ai. Men giả hình không bị đuổi bằng một quyết tâm dữ dội trong một ngày. Nó bị đuổi bằng sự trở về đều đặn trước mặt Đấng thấu suốt, bằng việc chịu thua cái tôi muốn được nể, bằng việc chấp nhận thiệt thòi nhỏ của hôm nay để khỏi mất tương quan của cả đời. Người nào chịu sống như thế sẽ không luôn được đời này trọng. Nhưng người ấy được điều mà mọi sự trọng vọng của đời này không mua được: được chính Thiên Chúa, được tình yêu không cần mặt nạ, được gia nghiệp không ai lấy mất, và được đứng thẳng, không sợ, vì mình không còn gì phải che.