Hoa Tình Thươnghttps://hoatinhthuong.net/assets/images/logo.png
Thứ sáu - 16/10/2026 09:28
images (14)
Trước khi vũ trụ được gọi ra khỏi hư không, trước khi ánh sáng được phân rẽ khỏi bóng tối, trước khi mặt đất khô cạn và biển cả được gom lại, trước khi một hạt bụi nào kịp hiện hữu để làm nên thân xác con người, đã có một sự chọn lựa. Sự chọn lựa ấy không phải là một ý tưởng thoáng qua trong trí một đấng nào đó đang ngắm nhìn khoảng trống, cũng không phải là một tính toán xuất hiện sau khi con người đã sa ngã rồi mới được vá víu lại. Đó là một quyết định của tình yêu đã có từ trước nền móng thế gian, một quyết định trong đó mỗi người được nhìn thấy không phải như một sản phẩm ngẫu nhiên của tiến hóa hay như một con số trong đám đông, mà như một kẻ được muốn, được gọi tên, được định cho sự thánh thiện. Khi người ta đứng trước mầu nhiệm ấy, mọi thứ mà ta quen gọi là quá khứ của mình bỗng trở nên ngắn ngủi đến mức gần như vô nghĩa, bởi vì câu chuyện thật của đời người không bắt đầu từ ngày sinh ra, không bắt đầu từ gia đình, không bắt đầu từ những thất bại hay những thành công đã ghi trong ký ức, mà bắt đầu từ một cái nhìn yêu thương đã có trước cả thời gian. Được chọn trước nền móng thế gian không có nghĩa là bị đóng khung trong một số phận không thể đổi, cũng không có nghĩa là một số người được giữ lại còn những người khác bị loại bỏ từ thuở chưa có gì. Được chọn ở đây là được đặt vào trong Đức Kitô, được muốn nên thánh và không tì ố trước nhan Người, được định cho địa vị làm con chứ không phải làm tôi mọi, được dự phần vào gia sản không phải vì công trạng đã lập mà vì máu đã đổ ra để mua lại những gì tội lỗi đã làm tan vỡ. Thánh thiện mà Thiên Chúa muốn nơi người được chọn không phải là một vẻ bề ngoài sạch sẽ để trưng bày, không phải là một danh tiếng đạo đức để người khác khen, mà là một sự trong sạch phát xuất từ việc được ở trong Đấng Thánh, được tha thứ, được kéo vào mối hiệp thông mà tội đã cắt đứt. Mọi phúc lành thiêng liêng trên các tầng trời đã được ban trong Đức Kitô, và chữ mọi ở đây không để lại một khoảng trống nào cho sự bủn xỉn. Thiên Chúa không ban một phần rồi giữ lại phần kia để xem con người có xứng đáng hay không. Người không chờ con người chứng minh mình đáng được yêu rồi mới mở kho. Kho đã mở từ trước khi có người đến gõ cửa. Phúc lành ấy không phải là những món quà rời rạc được thả xuống tùy theo mùa, mà là chính sự sống của Con Một được thông ban, là sự thứ tha được đổ tràn, là khôn ngoan để nhận ra ý định của Cha, là sức mạnh để đứng vững khi thế gian chống lại, là niềm hy vọng không đặt nền trên những gì mắt thấy. Người ta thường cầu xin những điều cụ thể và thất vọng khi không nhận được đúng hình thức mình muốn, trong khi điều đã được ban còn lớn hơn mọi lời cầu: được ở trong Đức Kitô, được kể là con, được máu Người rửa sạch, được kéo vào kế hoạch thu tóm mọi sự lại trong Người. Không có phúc lành nào trên trời mà lại ở ngoài Đức Kitô, và cũng không có gì trong Đức Kitô mà lại bị giữ lại không ban cho những kẻ thuộc về Người. Sự sung mãn ấy giải thích vì sao đời sống đức tin không được phép co lại thành một chuỗi nghi lễ giữ cho yên lương tâm. Nếu mọi phúc lành đã được ban, thì sự nghèo nàn thiêng liêng của người tín hữu không đến từ việc Thiên Chúa thiếu, mà đến từ việc người ấy chưa chịu nhận, chưa chịu ở lại, chưa chịu để cho điều đã ban biến đổi cách mình sống, cách mình nhìn anh em, cách mình dùng thời giờ và của cải. Được tiền định làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô không phải là một danh hiệu được gắn thêm vào bên cạnh những danh hiệu khác của đời người. Đó là căn tính. Người làm con không còn đứng ngoài cửa để xin phần ăn của người làm thuê. Người làm con được vào nhà, được gọi Cha, được dự phần gia sản, được mang lấy nét mặt của Đấng đã sinh ra mình trong ân sủng. Sự nhận làm con ấy diễn ra trong tình yêu, không phải trong một hợp đồng trao đổi. Cha không nhận con vì con có ích, và con không trở thành con vì đã trả được món nợ. Máu của Đức Kitô là giá của sự cứu chuộc, và giá ấy cho thấy tội không phải là một vết bẩn nhẹ có thể phủ qua bằng vài việc lành. Tội đã làm đứt mối hiệp thông, đã đẩy con người ra khỏi nhà, đã biến anh em thành đối thủ, đã khiến tạo thành rên siết. Để kéo tất cả những điều ấy trở lại, cần một sự trao hiến đến cùng, cần một thân thể bị nộp, cần một máu đổ ra không phải như biểu tượng mà như sự sống thật bị thí mạng. Ơn tha tội vì thế không bao giờ là chuyện nhỏ. Người được tha không có quyền coi nhẹ điều đã khiến Con Thiên Chúa phải chết, cũng không có quyền biến sự tha thứ thành một tấm giấy phép để tiếp tục sống như cũ. Ân sủng được đổ tràn trên người được chọn chính là để người ấy ca ngợi vinh quang của ân sủng ấy, nghĩa là đời sống trở thành một lời ngợi khen sống động, không phải bằng môi miệng suông mà bằng việc để cho sự tha thứ sinh hoa trái là sự hòa giải, sự trong sạch, sự quảng đại. Mầu nhiệm của thánh ý được mặc khải không phải là một bí mật dành cho vài người thông thái, mà là ý định muôn thuở: thu tóm mọi sự lại trong Đức Kitô, cả những gì trên trời lẫn những gì dưới đất. Tội đã làm phân tán. Gia đình rạn nứt, cộng đoàn chia phe, dân tộc chống dân tộc, con người khai thác tạo thành như kẻ thù, và ngay trong lòng mỗi người cũng có những tiếng nói đánh nhau không ngừng. Chương trình của Thiên Chúa không phải là cứu một linh hồn rồi bỏ mặc phần còn lại của thế giới. Chương trình ấy là quy tụ. Mọi sự được đưa về một Đầu. Hội Thánh không phải là một hội những người cùng sở thích, mà là nơi sự quy tụ ấy đã bắt đầu được nhìn thấy, dù còn yếu ớt, dù còn đầy vết thương. Khi người tín hữu từ chối tha thứ, khi giáo xứ trở thành nơi ganh đua, khi lời cầu nguyện không dẫn tới việc sửa lại mối tương quan đã gãy, thì người ấy đang sống ngược lại với điều mình đã được chọn để thực hiện. Được chọn trước nền móng thế gian là được chọn cho sự hiệp nhất ấy, không phải cho một sự thánh thiện cô lập. Người ở một mình mà cho mình là đạo đức, trong khi anh em bị loại ra ngoài bàn tiệc của lòng mình, thì chưa bước vào trong kế hoạch đã được định từ thuở đời đời. Có một cách từ chối rất tinh vi đối với kế hoạch ấy. Đó là xây mồ cho các ngôn sứ đã chết trong khi vẫn tiếp tay để giết các ngôn sứ đang sống. Người ta trân trọng những gì đã qua, dựng bia, kể chuyện, tổ chức lễ nhớ, và đồng thời bịt tai trước lời đang chất vấn hôm nay. Các ngôn sứ ngày xưa bị ném đá vì đã nói điều dân không muốn nghe. Đến đời sau, con cháu dựng mộ cho họ và tự nhủ rằng nếu mình sống thời ấy thì đã không làm như cha ông. Nhưng chính lúc tự biện hộ như vậy, họ đang chứng tỏ mình thuộc về dòng dõi những kẻ giết ngôn sứ, vì họ cũng đang chối từ Đấng đến sau các ngôn sứ, Đấng mà các ngôn sứ đã chỉ về. Sự thông thái có thể trở thành then cửa. Người nắm chìa khóa của sự hiểu biết không vào, và còn ngăn những người muốn vào. Lời Chúa bị biến thành đối tượng tranh luận, thành kho câu để bắt bẻ, thành hàng rào để bảo vệ địa vị, thay vì thành đường để đi tới Cha. Sự nguy hiểm này không chỉ thuộc về một nhóm người ở một thời xa. Bất cứ khi nào thập giá được treo cho đẹp trên tường mà không được vác trong đời sống, bất cứ khi nào ảnh tượng được phủ hoa trong khi người nghèo bị bước qua, bất cứ khi nào kinh được đọc nhiều mà lòng vẫn khép trước người mình không ưa, thì mồ các ngôn sứ lại đang được xây. Tôn kính người chết thì dễ, vì người chết không còn chất vấn. Đi theo Đấng đang sống thì khó, vì Người vẫn nói những điều làm đảo lộn thói quen, vẫn đòi sự thật trong tương quan, vẫn không cho phép dùng đạo để che sự cứng lòng. Thánh Ignatiô Antiôkia đã hiểu điều ấy không phải bằng suy luận mà bằng cả một đời bị kéo về phía Đức Kitô. Là giám mục, là người đã nghe các tông đồ, là kẻ bị xiềng giải đi giữa những người lính như giữa những con báo, ngài không xin được cứu khỏi cái chết đang chờ ở Rôma. Ngài xin đừng ai ngăn cản mình được nghiền ra như lúa mì để trở thành bánh tinh tuyền của Thiên Chúa. Hình ảnh ấy không phải là một lối nói cho hay. Đó là cách ngài hiểu bí tích mình vẫn cử hành. Bánh được bẻ ra vì đã được nghiền. Rượu được đổ vì nho đã bị ép. Người môn đệ không thể muốn hiệp lễ mà lại từ chối được nghiền. Ignatiô gọi bí tích ấy là thuốc trường sinh, là phương thuốc chống lại sự chết, không phải vì nó làm cho người ta khỏi phải chết ở đời này, mà vì nó đưa cái chết vào trong sự chết của Đức Kitô để sự chết không còn là tiếng nói cuối. Ngài sợ một điều hơn là sợ thú dữ: sợ rằng khi đã tới nơi chịu chết mà lòng vẫn còn dính vào thế gian, vẫn còn muốn được nể, vẫn còn tính toán để giữ mạng theo kiểu loài người. Vì thế ngài viết như người đang chạy về phía điều mình đã được chọn từ trước khi có thành Antiôkia, từ trước khi có đế quốc, từ trước khi có bất cứ vinh quang nào mắt người đời có thể thấy. Sự lựa chọn của ngài làm lộ ra sự lựa chọn của Thiên Chúa. Được tiền định nên thánh không dẫn tới một cuộc đời được bảo vệ khỏi mọi đau, mà dẫn tới một cuộc đời trong đó đau đớn có thể trở thành chỗ ở lại của tình yêu, nếu người ta không giật mình rút lui. Đời thường là nơi câu trả lời ấy được viết, chứ không phải chỉ ở giờ tử đạo. Người cha người mẹ thức đêm vì con bệnh, người làm việc trung thực khi không ai kiểm tra, người chịu hiểu lầm mà không trả đũa, người dám nói sự thật trong cộng đoàn dù biết mình sẽ bị ghét, người trở lại với bí tích sau những năm tháng bỏ đi, tất cả đều là những cách để hạt lúa chịu nghiền. Không cần tìm một sân khấu lớn. Kế hoạch có từ trước nền móng thế gian được thực hiện trong những việc nhỏ đến mức người ngoài không thấy, miễn là những việc ấy được làm trong Đức Kitô chứ không phải để xây cho mình một cái mồ đẹp. Thánh lễ mỗi ngày, hoặc mỗi tuần, không phải là một cử chỉ nhớ ơn suông. Đó là nơi Giáo Hội để mình được kéo vào sự trao hiến đã hoàn tất một lần và vẫn đang thông ban. Ai rước lấy bánh đã bẻ mà vẫn giữ nguyên sự chia rẽ trong lòng, người ấy chưa để cho thuốc trường sinh làm việc. Ai ra về mà không mang lấy chút gì của sự quy tụ, người ấy đã dự một nghi thức chứ chưa bước vào mầu nhiệm thánh ý. Ca ngợi ân sủng là cùng đích được nêu ra khi nói về việc chọn lựa và việc nhận làm con. Không phải để con người biến mất, mà để con người tìm lại được chỗ đứng đúng của mình: một thụ tạo được yêu đến mức được gọi là con, một tội nhân được máu mua lại, một phần của tạo thành đang được thu tóm. Lời ngợi khen chân thật không cần đợi khi mọi sự đã ổn. Chính giữa những gì còn tan vỡ, người được chọn vẫn có thể nhìn nhận rằng mình không tự cứu được mình, rằng kế hoạch không do mình vẽ, rằng máu đã đổ không vô ích. Sự nhìn nhận ấy đổi cách người ta đối xử với thời gian còn lại. Không còn sống như kẻ phải tự chứng minh để được Thiên Chúa đoái hoài. Sống như kẻ đã được đoái hoài từ trước khi có mình, và vì thế phải để cho đời mình trở thành dấu chỉ cho người khác thấy họ cũng được muốn. Lòng thương xót không bị bủn xỉn ở nơi người đã hiểu mình được chọn như thế nào. Người ấy không xây hàng rào quanh phần phúc của mình. Người ấy mở cửa, vì chính mình đã được mở cửa lúc chưa kịp gõ. Sự từ chối vẫn có thể xảy ra, và Tin Mừng không giấu điều đó. Có những người nghe mà tìm cách bắt bẻ, có những người thấy dấu lạ mà càng cứng lòng, có những người giữ chìa khóa mà không vào. Tự do ấy là thật. Được chọn không xóa mất khả năng nói không. Nhưng nói không không làm cho kế hoạch của Thiên Chúa trở thành sai. Kế hoạch vẫn là thu tóm mọi sự trong Đức Kitô, và những ai nói không thì tự đặt mình ra ngoài niềm vui của sự quy tụ, chứ không làm hỏng được tình yêu đã muốn họ từ trước. Vì thế mà lời mời gọi không bao giờ là một lời đe dọa suông. Đó là lời của Đấng đã trả giá bằng máu, vẫn đứng đó, vẫn muốn kẻ được chọn nên thánh, vẫn không rút lại điều đã định trước nền móng thế gian. Mỗi ngày là một lần có thể bước vào lại. Mỗi lần tha thứ cho anh em là một lần để cho sự phân tán được kéo về. Mỗi lần rước Mình Thánh là một lần để cho hạt lúa chấp nhận bị nghiền. Mỗi lần từ bỏ việc xây mồ cho một đức tin đã chết để vác lấy điều Tin Mừng đang đòi hôm nay, là một lần ca ngợi ân sủng bằng chính đời sống. Tất cả bắt đầu từ một cái nhìn có trước cả vũ trụ, và tất cả sẽ kết thúc trong sự quy tụ mà cái nhìn ấy đã muốn. Ở giữa hai đầu ấy là một đời người rất ngắn, đủ ngắn để không được phép phí, đủ thật để có thể nói có hoặc nói không. Nói có không hệ tại ở cảm xúc mạnh trong một buổi cầu nguyện. Nói có hệ tại ở việc để cho mình được ở trong Đức Kitô khi không ai vỗ tay, ở việc trở thành bánh chứ không chỉ ăn bánh, ở việc nhận anh em như kẻ cùng được chọn chứ không như kẻ cạnh tranh phần phúc. Trước nền móng thế gian, tên mỗi người đã ở trong ý muốn ấy. Phần còn lại của đời sống là trả lời, bằng một sự thánh thiện không phô trương, bằng một lòng thương xót không tính toán, bằng một sự hiệp nhất không dừng ở lời nói, cho đến khi mọi sự, cả những gì đã gãy, được thu lại trong Đấng đã muốn như thế từ thuở đời đời.