CHƯƠNG VI KHÔNG ĐỂ GIA ĐÌNH ĐI MỘT MÌNH

Chủ nhật - 04/10/2026 08:56
images (7)
images (7)
Thư Mục vụ, số 7
“Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau.” (Gl 6,2)
1. Lời khuyên không thay được một người bước tới
Có những gia đình không thiếu tình yêu, nhưng thiếu sức để tiếp tục yêu thương trong những hoàn cảnh quá nặng. Có những đôi vợ chồng không muốn bỏ nhau, nhưng đã quá lâu không biết phải nói với nhau thế nào để khỏi làm nhau đau thêm. Có những người cha vẫn thương con, vẫn muốn sống có trách nhiệm, nhưng áp lực cơm áo làm cho tiếng nói của họ ngày càng gắt, khuôn mặt ngày càng mệt, sự hiện diện trong nhà ngày càng ít. Có những người mẹ vẫn cầu nguyện, vẫn đưa con đến nhà thờ, vẫn giữ những bổn phận đạo đức, nhưng bên trong đã kiệt sức vì không có một ai để nói rằng mình đang không ổn. Có những gia đình nhìn từ bên ngoài vẫn đầy đủ: nhà còn đó, bàn thờ còn đó, ảnh cưới còn đó, những ngày lễ lớn vẫn thấy cả nhà xuất hiện. Nhưng sự đầy đủ ấy có thể che một khoảng trống rất sâu. Họ sống chung dưới một mái nhà mà không còn cảm thấy có người ở cùng mình trong những gánh nặng. Họ chưa tan vỡ, nhưng đang rời nhau từng chút. Họ chưa bỏ đức tin, nhưng đang cầu nguyện bằng một tâm hồn gần như không còn sức chờ đợi.
Khi đứng trước những gia đình ấy, chúng ta dễ nói những điều đúng mà chưa chạm đến điều họ cần. Hãy yêu thương nhau. Hãy nhẫn nhịn. Hãy giữ đạo. Hãy nghĩ đến con cái. Hãy cầu nguyện nhiều hơn. Những lời ấy có thể chân thành, có thể cần thiết, nhưng không phải lúc nào cũng đủ. Một người đang chìm không thể chỉ được cứu bằng lời giải thích rằng phải biết bơi. Một người đang mang một gánh quá sức không thể chỉ được nâng đỡ bằng lời khuyên rằng phải mạnh mẽ. Có lúc điều cần trước hết là một bàn tay thực sự đặt vào gánh nặng, một người chịu đứng lại, một sự hiện diện khiến người đau có thể thở và nói: tôi không còn phải mang tất cả một mình. Lời khuyên có giá trị khi đi cùng một mối quan hệ đủ tin cậy. Nếu không có mối quan hệ ấy, ngay cả lời rất đúng cũng có thể rơi xuống như một bổn phận mới đặt lên vai người đã quá mệt.
Bởi vậy, lời mời gọi “anh em hãy mang gánh nặng cho nhau” không thể được hiểu như một cách diễn tả đẹp để dùng trong các buổi chia sẻ. Đó là một đòi hỏi cụ thể của đời sống Kitô hữu. Mang gánh nặng cho nhau có nghĩa là chấp nhận để sự khó khăn của người khác chạm vào thời giờ, sự thuận tiện, khả năng và những dự định của mình. Tôi không thể nói mình đã mang gánh cho một gia đình nếu chỉ biết họ đang khổ rồi tiếp tục sống như thể điều ấy không liên quan đến mình. Tôi cũng không thể đồng hành bằng cách đứng từ xa, nhận xét sự yếu đuối của họ và cho rằng nếu họ có đức tin hơn thì đã không đến nỗi ấy. Đức tin không làm cho người ta mất khả năng mệt mỏi. Bí tích Hôn phối không biến hai con người thành những người không còn giới hạn. Một gia đình đạo đức vẫn có thể rơi vào khủng hoảng vì thất nghiệp, bệnh tật, mất mát, thiếu kỹ năng đối thoại, những tổn thương cũ hoặc những áp lực kéo dài mà không được nâng đỡ.
Số 7 của Thư Mục vụ, theo hướng triển khai của chương này, đưa lời mời gọi ấy đến các hội đoàn và phong trào phục vụ gia đình: quan tâm hơn nữa đến việc đồng hành, nâng đỡ và đào tạo các gia đình; tạo cơ hội cho các gia đình gặp gỡ, cầu nguyện, chia sẻ, nâng đỡ nhau và cùng thực hiện những việc bác ái, truyền giáo. Đây là một chuyển động rất quan trọng. Gia đình không chỉ được mời gọi làm điều tốt cho Hội thánh. Gia đình cũng cần được Hội thánh chăm sóc để có thể sống ơn gọi của mình. Không thể liên tục kêu gọi gia đình trở thành cộng đoàn thừa sai mà không hỏi gia đình ấy đang cần gì, đang chịu những sức ép nào, còn khả năng ngồi lại với nhau hay không, có ai giúp họ khi đời sống bắt đầu rạn nứt hay không. Muốn một ngọn đèn chiếu sáng, phải quan tâm đến dầu trong đèn. Muốn một gia đình trở thành nơi trao ban hy vọng, phải giúp gia đình ấy được nuôi dưỡng trong hy vọng.
Đặc biệt, lời mời gọi hướng đến những gia đình trẻ, những gia đình di dân, những gia đình ly hôn và những gia đình đang xa rời đời sống đức tin. Bốn hoàn cảnh ấy không phải bốn nhãn để gắn lên những con người cần được quản lý. Đó là những cửa ngõ để cộng đoàn nhận ra những gánh nặng rất khác nhau. Gia đình trẻ có thể đang chật vật học cách làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ trong khi mọi việc đến cùng một lúc. Gia đình di dân có thể đang sống giữa một giáo xứ mà vẫn không biết mình thuộc về đâu. Gia đình ly hôn có thể đang mang cả nỗi đau của đổ vỡ lẫn nỗi sợ bị đánh giá. Gia đình xa đời sống đức tin có thể đã trải qua một quãng dài nguội lạnh, nhưng cũng có thể đang giữ trong lòng những câu hỏi, thất vọng hoặc tổn thương chưa ai chịu nghe. Nếu chỉ nhìn từ việc họ có tham dự sinh hoạt hay không, chúng ta sẽ thấy sự vắng mặt. Nếu chịu đến gần, chúng ta có thể thấy cả một câu chuyện phía sau sự vắng mặt ấy.
Một đôi vợ chồng trẻ không đến buổi gặp mặt của hội đoàn chưa chắc vì họ không quan tâm đến đức tin. Có thể người chồng đang làm ca tối. Có thể người vợ vừa sinh con, ngủ không đủ, không có ai trông trẻ. Có thể họ sống quá xa, không có phương tiện thuận tiện. Có thể cả hai đều nghĩ buổi gặp mặt ấy dành cho những gia đình đã ổn định, nói năng tự tin, còn mình thì quá vụng về và nhiều vấn đề. Một gia đình di dân không đăng ký tham gia chưa chắc vì họ muốn đứng ngoài. Có thể họ chưa biết phải gặp ai. Có thể từng đến một lần mà không ai hỏi tên. Có thể họ nghĩ mình chỉ tạm trú nên không có quyền nhận sự quan tâm. Một người ly hôn ngồi ở hàng ghế cuối chưa chắc vì thiếu lòng yêu mến Chúa. Có thể họ vẫn đến vì chính lòng yêu mến ấy, nhưng sợ mọi ánh nhìn sẽ biến câu chuyện đời mình thành một bản án.
Cộng đoàn cần học cách nhìn người khác sâu hơn những gì xuất hiện trong danh sách. Người đang cần giúp có khi không phải người lên tiếng nhiều nhất. Gia đình đang nguy hiểm có khi không phải gia đình gây ra nhiều tiếng động nhất. Có những nhà rất im lặng vì đã không còn biết phải nhờ ai. Có những người luôn nói “dạ, nhà con vẫn bình thường” vì sợ nếu nói thật sẽ bị coi là yếu đuối, bị khuyên ngay, bị hỏi thêm những điều chưa sẵn sàng nói hoặc bị đem chuyện đi kể. Sự im lặng ấy không thể bị phá bằng tò mò. Nó chỉ có thể được mở bằng một sự hiện diện đủ hiền, đủ kín đáo và đủ bền.
Một người bước tới có thể bắt đầu rất đơn sơ: một cuộc gọi không thúc ép, một lời hỏi thăm không xét nét, một lần ghé thăm đã được gia đình đồng ý, một buổi ngồi cùng người mẹ đang nuôi con nhỏ, một sự giúp đỡ để người cha có thể đưa người thân đi khám bệnh. Những việc ấy không giải quyết mọi vấn đề. Nhưng chúng làm một việc nền tảng: đặt lại trong lòng người đang mệt cảm giác mình còn được nhớ tới. Khi một người tin rằng mình còn được nhớ, họ có thể bắt đầu tin rằng mình còn có thể trở về. Khi một gia đình cảm thấy có người cùng đi, họ có thêm sức để đối diện điều trước đây chỉ muốn né tránh.
Tất nhiên, bước tới không có nghĩa là xông vào đời người khác. Có những gia đình cần thời gian trước khi mở cửa. Có người chỉ muốn nói một chút. Có người chưa muốn gặp. Có người nhận sự giúp đỡ nhưng chưa sẵn sàng tham gia sinh hoạt. Sự đồng hành thật biết tôn trọng những giới hạn ấy. Không dùng lòng tốt để đòi quyền biết mọi chuyện. Không biến một lần giúp đỡ thành món nợ khiến gia đình phải nghe theo. Không lấy việc họ chưa đáp ứng lời mời của mình làm lý do rút lại sự quan tâm. Người bạn đồng hành không đến để chiếm chỗ của gia đình trong những quyết định thuộc về họ. Người ấy đến để giúp gia đình có thêm ánh sáng, thêm nguồn lực và thêm can đảm khi quyết định.
Một giáo xứ có thể làm rất nhiều việc, nhưng chỉ cần một người đang đau nói được rằng “ở đây có người biết chuyện của tôi và không bỏ tôi”, chúng ta đã chạm đến một chiều sâu rất thật của mục vụ. Ngược lại, một lịch sinh hoạt kín đặc vẫn có thể để người ta cô độc. Chương trình có thể được tổ chức chu đáo mà không ai có thời giờ ngồi xuống với một gia đình. Những báo cáo có thể đầy thành tích mà một người mẹ vẫn không tìm được số điện thoại để gọi khi cần. Chính vì thế, trước câu hỏi chúng ta đã tổ chức được bao nhiêu hoạt động, cần có một câu hỏi khác: đã có bao nhiêu gia đình thực sự cảm thấy mình được đi cùng?
2. Hội thánh đồng hành, không chỉ dạy
Hội thánh có trách nhiệm giảng dạy chân lý, nhưng chân lý được trao cho những con người có lịch sử, thương tích, giới hạn và những khả năng khác nhau. Người đang chịu đau không chỉ cần biết điều gì đúng. Họ còn cần được giúp để có thể bước về phía điều đúng. Một đôi vợ chồng đang không nói được với nhau có thể thuộc lòng những lời dạy về tình yêu và sự trung thành, nhưng vẫn cần người giúp họ nhận ra cách mình đang làm nhau tổn thương. Một người cha đang xa đức tin có thể nhớ nhiều bài giáo lý, nhưng cần một cuộc gặp khiến lòng mình bớt phòng thủ. Một người mẹ sau đổ vỡ có thể biết rất rõ giáo huấn của Hội thánh về hôn nhân, nhưng điều đang làm họ khóc trong đêm là câu hỏi ngày mai lấy gì nuôi con và làm sao giữ cho con khỏi nghĩ rằng nó bị bỏ rơi.
Trong các cuộc gặp của Đức Giêsu, chúng ta thấy một sự gần gũi luôn mở đường cho lời nói. Người dừng lại trước tiếng kêu của người mù. Người nói chuyện với người phụ nữ Samari ngay trong hoàn cảnh cụ thể của chị. Người bước vào nhà Giakêu. Người đón nhận tình bạn nơi gia đình Bêtania. Người đi cùng hai môn đệ trên đường Emmaus và để họ kể điều đang làm lòng họ nặng. Những cuộc gặp ấy khác nhau, nhưng cùng cho thấy con người được nhìn nhận trước khi bị thu gọn thành vấn đề cần giải quyết. Đức Giêsu không coi nỗi đau là sự phiền nhiễu làm chậm sứ mạng. Chính trong việc đến gần người đau, sứ mạng của Người được tỏ bày.
Cách đồng hành ấy đặt ra một câu hỏi cho mọi người làm mục vụ gia đình: khi một gia đình tìm đến, họ gặp một người hay gặp một thủ tục? Dĩ nhiên, có những việc phải được thực hiện theo những quy định cần thiết. Nhưng ngay trong việc hướng dẫn thủ tục, một người vẫn có thể cảm thấy mình được đón nhận hoặc bị đẩy ra. Một lời nói chậm lại, một câu giải thích rõ ràng, một thái độ không làm người khác xấu hổ, một sự quan tâm đến hoàn cảnh cụ thể có thể thay đổi toàn bộ kinh nghiệm của cuộc gặp. Gia đình không chỉ nhớ điều chúng ta đã nói. Họ nhớ cách chúng ta nhìn họ khi họ còn chưa nói hết.
Đồng hành bắt đầu bằng lắng nghe. Nhưng lắng nghe không phải chỉ im miệng trong lúc chờ đến lượt mình khuyên. Lắng nghe là chấp nhận rằng câu chuyện thật có thể khác điều mình tưởng. Chúng ta tưởng người chồng vô trách nhiệm, nhưng khi nghe kỹ mới biết anh đang tuyệt vọng vì thất nghiệp và không dám nói ra. Chúng ta tưởng người vợ lạnh nhạt, nhưng khi nghe kỹ mới biết chị đã nhiều năm phải chịu những lời hạ nhục. Chúng ta tưởng đứa con phản kháng vì hư, nhưng khi nghe kỹ mới biết em đang bị kéo vào những cuộc tranh chấp của cha mẹ. Lắng nghe không có nghĩa là mọi lời kể đều đã đầy đủ hoặc mọi hành vi đều có thể được biện minh. Lắng nghe giúp chúng ta tránh sự bất công của một kết luận quá sớm và nhận ra điều cần được tìm hiểu thêm.
Có những người đến gặp không cần một bài giảng ngay. Họ cần có chỗ để nói câu đầu tiên: “Con đang mệt quá.” Nếu câu đầu tiên ấy vừa cất lên đã bị chặn bằng “ai mà chẳng mệt”, một cánh cửa sẽ đóng lại. Nếu họ nói “con không còn muốn về nhà” và lập tức bị đáp “nghĩ như vậy là sai”, có thể họ sẽ không nói tiếp rằng trong nhà đang có điều khiến họ sợ. Nếu họ thú nhận “con đã lâu không cầu nguyện” và chỉ nghe một lời trách, chúng ta có thể bỏ lỡ cơ hội biết rằng họ đang chăm sóc người bệnh suốt nhiều tháng và cầu nguyện duy nhất còn lại là một tiếng thở dài. Lắng nghe giúp lời hướng dẫn đi đúng vào con người thật, thay vì rơi vào một trường hợp do chúng ta tự dựng lên.
Sau lắng nghe là phân định. Không phải mọi khủng hoảng gia đình đều có cùng nguyên nhân, cùng mức độ và cùng cách giải quyết. Có nhà cần học đối thoại. Có nhà cần được hỗ trợ kinh tế trong một giai đoạn. Có nhà cần người giúp tổ chức lại việc chăm sóc con và người già. Có người cần sự trợ giúp chuyên môn về tâm lý. Có hoàn cảnh phải ưu tiên bảo vệ người đang bị đe dọa hoặc bị bạo lực. Có trường hợp cần được hướng dẫn gặp những người có trách nhiệm về các vấn đề hôn nhân trong Hội thánh. Người đồng hành có trách nhiệm biết giới hạn của mình và biết đưa gia đình đến nơi có thể giúp đúng việc. Không thể lấy nhiệt tình thay cho mọi năng lực. Cũng không thể dùng một lời khuyên đạo đức để thay cho sự can thiệp cần thiết khi sự an toàn của một người đang bị đe dọa.
Đặc biệt, cần hết sức thận trọng trước lời khuyên “hãy chịu đựng vì gia đình”. Trong một mâu thuẫn thông thường, kiên nhẫn và nhường nhịn có thể giúp hai người vượt qua lúc nóng giận. Nhưng khi có bạo lực, đe dọa, cưỡng ép hoặc sự hạ nhục kéo dài, việc bảo vệ người bị tổn thương và những đứa trẻ phải được đặt ra nghiêm túc. Không thể nhân danh sự bền vững của gia đình để yêu cầu một người tiếp tục ở trong nguy hiểm. Sự hòa giải đòi hỏi sự thật, trách nhiệm và những thay đổi cụ thể. Một lời xin lỗi chưa đủ nếu hành vi làm hại vẫn tiếp diễn. Đồng hành với người gây tổn thương cũng phải bao gồm việc giúp họ nhận trách nhiệm, chấm dứt hành vi ấy và tìm sự trợ giúp thích hợp.
Mục vụ gia đình vì thế cần một khuôn mặt, nhưng cũng cần một cách làm có trách nhiệm. Sự gần gũi không thể chỉ dựa trên tính tình dễ thương của một vài người. Cộng đoàn cần đào tạo người đồng hành biết nghe, biết giữ kín điều được chia sẻ, biết tôn trọng tự do, biết nhận ra những tình huống vượt quá khả năng của mình. Cần tránh để chuyện một gia đình được kể lại trong những cuộc gặp đông người dưới danh nghĩa “xin mọi người cầu nguyện”. Gia đình có quyền được giúp mà không phải trả giá bằng việc mất sự riêng tư. Một người chỉ thật sự mở lòng khi tin rằng câu chuyện của mình sẽ không trở thành chuyện ngoài chợ, chuyện sau thánh lễ hoặc một minh họa được đưa lên mạng.
Việc đồng hành cũng cần sự liên tục. Một buổi gặp có thể đem lại nhẹ nhõm, nhưng sau đó gia đình lại trở về với chính những khó khăn cũ. Nếu không có ai hỏi thăm, họ có thể nghĩ sự quan tâm chỉ tồn tại trong lúc có chương trình. Một cuộc gọi sau vài ngày, một lần cùng xem lại điều đã thống nhất, một lời hỏi “điều nào đang khó nhất đối với anh chị lúc này?” giúp họ cảm thấy mối quan hệ ấy còn sống. Đồng hành từng bước có nghĩa là không đòi mọi thay đổi xảy ra ngay. Có gia đình trước hết chỉ cần học cách không xúc phạm nhau khi giận. Sau đó mới có thể nói về những tổn thương cũ. Có người trước hết cần trở lại với một lời cầu nguyện rất ngắn. Sau đó mới đủ sức tham dự đều đặn hơn vào đời sống cộng đoàn.
Từng bước cũng có nghĩa là đón nhận những lúc chậm lại. Có đôi vợ chồng hôm trước vừa đối thoại được, hôm sau lại cãi nhau. Có người vừa trở lại sinh hoạt vài tuần đã vắng. Có gia đình đã nhận hỗ trợ nhưng vẫn loay hoay với những lựa chọn không khôn ngoan. Những điều ấy cần được nhìn nhận và hướng dẫn, nhưng không thể trở thành lý do để kết luận rằng mọi cố gắng đã vô ích. Sự trưởng thành hiếm khi đi thành một đường thẳng. Người đồng hành cần đủ kiên nhẫn để nhận ra một tiến bộ nhỏ mà người trong cuộc chưa thấy: một lần biết dừng lại trước khi nói nặng, một lần chịu nghe con giải thích, một lần dám xin giúp thay vì giấu, một lần có mặt trong giờ kinh sau nhiều tháng vắng.
Hội thánh đồng hành không có nghĩa là thôi mời gọi con người hoán cải. Chính vì yêu thương, Hội thánh tiếp tục mời gọi họ sống trong sự thật và tình yêu. Nhưng lời mời gọi ấy cần được trao trong một tương quan làm cho người nghe có thể tin rằng mình được yêu cả khi còn chưa làm được điều được mời gọi. Sự đón nhận không xóa trách nhiệm. Sự hướng dẫn không được xóa phẩm giá. Khi hai điều ấy đi cùng nhau, người đau có thể đối diện lỗi lầm mà không tuyệt vọng, người đã làm hại có thể nhận trách nhiệm mà không trốn tránh, gia đình có thể nhìn vào sự thật mà vẫn còn hy vọng về một con đường phía trước.
Một người biết nghe, một gia đình biết chia sẻ, một cộng đoàn biết nâng đỡ, một linh mục biết đến gần: những khuôn mặt ấy làm cho mục vụ trở nên có thể chạm tới. Không ai có thể thay một mình tất cả những người khác. Linh mục không thể hiện diện trong mọi hoàn cảnh. Một gia đình đồng hành không thể giải quyết mọi vấn đề. Một hội đoàn không có mọi nguồn lực. Nhưng khi biết phối hợp, biết giới thiệu và biết giữ liên lạc, cộng đoàn có thể trở thành một mạng lưới nâng đỡ thực sự. Gia đình đang đau không phải tự đi từ người này đến người khác, lặp lại câu chuyện nhiều lần mà vẫn không biết ai chịu trách nhiệm đi cùng mình.
3. Gia đình đồng hành với gia đình
Có những điều một linh mục có thể giúp gia đình nhìn ra bằng ánh sáng Lời Chúa và đời sống bí tích. Có những điều một người có chuyên môn có thể giúp họ hiểu về tâm lý, giao tiếp hoặc những hoàn cảnh cần can thiệp. Và có những điều một gia đình đã đi qua có thể nói bằng thứ ngôn ngữ rất gần: chúng tôi cũng từng không ngủ được vì con; chúng tôi cũng từng mang tiền về mà vẫn không đủ; chúng tôi cũng từng có những tháng ngồi cùng bàn nhưng không thật sự nói chuyện; chúng tôi cũng từng nghĩ người kia sẽ không bao giờ hiểu mình. Những lời ấy không làm nhẹ đi trách nhiệm của đôi vợ chồng đang gặp khó. Chúng làm giảm cảm giác xấu hổ khiến họ tưởng chỉ nhà mình mới như vậy.
Gia đình đồng hành với gia đình có sức mạnh từ sự gần gũi của kinh nghiệm. Người mẹ đang nuôi con nhỏ có thể được nâng đỡ bởi một người mẹ hiểu sự mệt mỏi của những đêm thức trắng. Người cha mới mất việc có thể dễ nói với một người cha từng phải bắt đầu lại hơn với một người chỉ biết hỏi vì sao chưa tìm được việc. Một gia đình di dân có thể học được những điều rất thiết thực từ gia đình đã sống lâu hơn trong cùng khu vực: giờ lễ phù hợp, nơi học giáo lý, cách liên hệ khi có việc cần, những chỗ có thể tìm sự giúp đỡ đáng tin cậy. Một người đang một mình chăm con sau đổ vỡ có thể thấy mình bớt cô độc khi gặp người hiểu sự khó khăn của việc phải vừa kiếm sống, vừa giữ cho con cảm thấy an toàn và được yêu.
Tuy nhiên, kinh nghiệm chỉ trở thành quà tặng khi được trao với sự khiêm tốn. “Chúng tôi đã làm được, anh chị cũng phải làm như vậy” là một câu có thể gây áp lực hơn là nâng đỡ. Mỗi gia đình có một lịch sử khác nhau, những nguồn lực khác nhau, những mức độ tổn thương khác nhau. Một đôi đã vượt qua khủng hoảng không có quyền áp con đường của mình lên mọi đôi khác. Người đã từng nghèo không được vì thế mà coi thường một người đang thiếu thốn. Người đã giữ được hôn nhân không được từ thành công ấy kết luận rằng mọi cuộc đổ vỡ đều do thiếu cố gắng. Kinh nghiệm giúp chúng ta cảm thông hơn, chứ không trao cho chúng ta quyền phán xét nhiều hơn.
Bởi vậy, khi chọn các gia đình để đồng hành, cộng đoàn không nên chỉ tìm những gia đình có hình ảnh đẹp. Đẹp trong một ngày lễ không có nghĩa là đủ khả năng đi cùng người khác trong một đêm khủng hoảng. Nói hay trước đám đông không có nghĩa là biết nghe một người đang khóc. Hoạt động nhiều không có nghĩa là biết giữ kín chuyện riêng. Gia đình trưởng thành trong đức tin là gia đình đang học sống thật trước Thiên Chúa, biết nhìn nhận giới hạn, biết xin lỗi, biết sửa mình, biết đón nhận sự trợ giúp và biết tôn trọng hành trình của người khác. Họ có thể đã trải qua những khó khăn sâu sắc. Điều làm họ đáng tin là họ đã học từ những khó khăn ấy để trở nên hiền hơn, khiêm tốn hơn và có trách nhiệm hơn.
Một đôi vợ chồng đã học cách xin lỗi nhau có thể giúp đôi khác hiểu rằng lời xin lỗi cần đi cùng việc thay đổi. Một gia đình đã từng bỏ giờ kinh có thể chia sẻ cách họ bắt đầu lại bằng một lời nguyện ngắn, thay vì đòi con cái ngồi ngay trong một buổi kinh dài. Một người cha từng nóng giận có thể kể về việc mình phải tập dừng, phải rời cuộc tranh luận một lúc, phải quay lại nói chuyện khi đã bình tĩnh và phải nhận trách nhiệm trước con. Một người mẹ từng kiệt sức có thể giúp người mẹ khác hiểu rằng xin người thân chia sẻ công việc không phải là thiếu hy sinh. Những kinh nghiệm ấy có sức đào tạo vì chúng cho thấy điều tốt có thể được thực hiện giữa đời sống thật.
Đồng hành giữa các gia đình cần có tính hai chiều. Gia đình được xem là người nâng đỡ hôm nay cũng có thể cần được nâng đỡ ngày mai. Một đôi nhiều kinh nghiệm vẫn có thể gặp biến cố bất ngờ. Một gia đình đang khó vẫn có những quà tặng để trao: sự chân thành, lòng biết ơn, khả năng chăm sóc một người khác, một chứng tá kiên trì trong nghịch cảnh. Nếu mối quan hệ chỉ có người cho và người nhận, rất dễ hình thành khoảng cách. Khi các gia đình nhận ra mình cùng thuộc về một cộng đoàn và đều cần ân sủng, sự giúp đỡ trở nên nhẹ hơn. Người nhận không phải sống mãi với cảm giác mắc nợ. Người cho không bị đặt vào vai người luôn mạnh.
Có thể bắt đầu bằng những nhóm nhỏ đủ gần để người ta biết nhau. Không nhất thiết phải có một chương trình đồ sộ. Vài gia đình gặp nhau vào thời gian phù hợp, cùng đọc một đoạn Lời Chúa, cầu nguyện ngắn, chia sẻ một khó khăn thực tế và thống nhất một việc có thể làm cho nhau. Người có con nhỏ cần được nghĩ tới khi chọn giờ. Người làm ca cần được nghĩ tới khi chọn ngày. Người không quen nói trước đám đông cần được phép chỉ nghe. Gia đình chưa sẵn sàng kể chuyện riêng cần được đón nhận mà không bị thúc ép. Một nhóm trưởng thành sẽ không đánh giá buổi gặp bằng số người khóc hay số câu chuyện được kể. Họ quan tâm sau buổi gặp, người tham dự có cảm thấy được tôn trọng và có thêm sức sống hay không.
Những việc nâng đỡ cụ thể có thể rất bình thường: giúp một gia đình tìm người trông con đáng tin cậy khi cần; đưa một người già đến nhà thờ; chia sẻ thông tin việc làm đã được kiểm chứng; hỗ trợ bữa ăn khi có người bệnh; giúp một đôi trẻ có một khoảng thời gian yên để nói chuyện; giới thiệu đúng người khi gia đình cần tư vấn. Cũng có lúc việc quý nhất là một lời nhắc nhẹ: “Anh chị không cần giấu mọi khó khăn để giữ hình ảnh.” Một cộng đoàn có thể cứu nhiều gia đình khỏi sự cô độc khi làm cho việc xin giúp trở thành điều bình thường, không phải dấu hiệu thất bại.
Các gia đình cũng có thể cùng làm việc bác ái và truyền giáo. Nhưng cần giữ cho hoạt động ấy vừa sức và nuôi dưỡng được đời sống gia đình. Nếu mọi việc chung đều đòi người cha hoặc người mẹ đi vắng liên tục, chính mái nhà của người phục vụ có thể bị bỏ quên. Nếu trẻ em chỉ được đưa theo để ngồi chờ người lớn họp, chúng khó cảm nhận niềm vui của sứ mạng. Một việc bác ái phù hợp có thể cho cả nhà cùng tham gia theo khả năng: chuẩn bị một phần quà, thăm một người neo đơn, chia sẻ một bữa ăn, cùng cầu nguyện cho một gia đình đang gặp khó. Qua đó, con cái học rằng đức tin có đôi tay, có thời giờ, có sự quan tâm đến những người cụ thể.
Cần chăm sóc cả những gia đình đang làm công việc đồng hành. Họ cũng có công việc, con cái, cha mẹ già, sức khỏe và những giới hạn. Không thể vì thấy họ nhiệt tình mà giao liên tục những trường hợp nặng. Người đồng hành có thể mệt vì nghe quá nhiều nỗi đau, cảm thấy bất lực vì chưa thấy kết quả hoặc bị cuốn vào những xung đột không thuộc trách nhiệm của mình. Cộng đoàn cần giúp họ được hướng dẫn, được nghỉ, được chia sẻ trong phạm vi thích hợp và được nhắc rằng họ không phải Đấng Cứu độ. Họ có thể hiện diện, giúp đỡ, kết nối và cầu nguyện; họ không thể làm thay tự do và trách nhiệm của tất cả mọi người.
Điều giữ cho gia đình đồng hành với gia đình khỏi trở thành một hoạt động thuần túy là đời sống cầu nguyện. Khi cùng đặt mình trước Chúa, các gia đình được nhắc rằng mỗi người đều cần được thương xót. Lời cầu nguyện làm dịu cám dỗ muốn sửa người khác thật nhanh. Lời Chúa giúp người đồng hành xét lại chính mình. Có khi trước khi hỏi tại sao gia đình kia không tiến bộ, chúng ta phải hỏi mình đã nghe đủ chưa, đã giữ lời hứa chưa, đã đến đúng lúc chưa, đã làm người ta cảm thấy bị thúc ép hay được nâng đỡ. Như thế, công việc đồng hành cũng trở thành con đường hoán cải của người đang phục vụ.
4. Đừng để nhà bị thương đứng ngoài cửa
Một gia đình bị thương thường không chỉ chịu nỗi đau từ điều đã xảy ra. Họ còn chịu sự lo lắng về cách người khác sẽ nhìn mình. Người vợ đi lễ một mình có thể sợ câu hỏi về chồng. Người cha nuôi con một mình có thể sợ mọi người nghĩ mình có lỗi. Người ly hôn có thể không biết nên nói về tình trạng của mình với ai và có được đón nhận hay không. Một đứa trẻ có cha mẹ đổ vỡ có thể thấy mình lạc lõng khi nghe những lời nói về gia đình mà trong đó chỉ có hình ảnh cha mẹ luôn ở bên nhau. Một người đã lâu không đến nhà thờ có thể muốn trở lại nhưng sợ phải giải thích toàn bộ quãng đời vắng mặt.
Cửa nhà thờ có thể mở, nhưng lòng người vẫn cảm thấy mình đứng ngoài. Khoảng cách ấy không luôn được tạo bằng một lời cấm. Có khi nó được tạo bằng những ánh nhìn, những câu hỏi, những lời đùa, những sự im lặng hoặc cách chỉ mời những gia đình được xem là trọn vẹn tham gia mọi việc. Có khi không ai cố ý loại trừ, nhưng cũng không ai chủ động đón nhận. Người bị thương bước vào, ngồi xuống, tham dự rồi ra về; cộng đoàn không nhận ra họ đã cần rất nhiều can đảm để có mặt. Nếu điều ấy lặp lại quá lâu, họ có thể thôi đến và nghĩ rằng sự vắng mặt của mình sẽ chẳng làm ai bận tâm.
Đối với những gia đình ly thân hoặc ly hôn, trước hết cần nhìn nhận những con người cụ thể thay vì dùng một tên gọi để kết luận tất cả. Có người bị bỏ rơi. Có người đã chịu đựng những điều rất lâu mà người ngoài không biết. Có người đang mang trách nhiệm về những lựa chọn sai của mình và cần được giúp để sửa chữa những gì còn có thể sửa. Có người đang lo cho con trong một hoàn cảnh rất khó. Có người mong được hướng dẫn rõ ràng về đời sống đức tin nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Cộng đoàn không thể giải quyết từng hoàn cảnh bằng suy đoán hoặc lời bàn tán. Việc tìm hiểu và hướng dẫn cần được thực hiện kín đáo, với người có trách nhiệm, trong sự tôn trọng và trung thành với giáo huấn của Hội thánh.
Đón nhận một người không có nghĩa là mọi vấn đề của họ đã được giải quyết. Đón nhận là giúp họ biết rằng mình có thể tìm đến, có thể trình bày, có thể được hướng dẫn và có thể tiếp tục sống những điều tốt lành trong hoàn cảnh hiện tại. Không thể để họ nghĩ rằng vì hôn nhân đã đổ vỡ, toàn bộ con người mình cũng bị gạt ra khỏi sự quan tâm của cộng đoàn. Họ vẫn cần Lời Chúa, cầu nguyện, tình bạn, sự trợ giúp trong việc chăm sóc con, một nơi có thể sống lòng bác ái và một hành trình để nhận ra điều Chúa đang mời gọi. Những vấn đề riêng về tình trạng hôn nhân và đời sống bí tích cần được hướng dẫn cụ thể; người ngoài không nên tự quyết thay bằng một lời cho phép dễ dãi hoặc một lời loại trừ vội vàng.
Trẻ em trong những gia đình ấy cần được quan tâm đặc biệt. Các em không có trách nhiệm về sự đổ vỡ của người lớn. Không nên để các em cảm thấy mình phải xin lỗi vì gia đình không giống những gia đình khác. Trong giáo lý, sinh hoạt và những lời nói trước cộng đoàn, cần tránh cách diễn tả khiến trẻ tự nghĩ mình kém được Chúa yêu. Một em sống với mẹ, với cha, với ông bà hoặc với người thân vẫn cần được gọi bằng tên, được mời tham gia, được lắng nghe và được giúp lớn lên trong đức tin. Có khi một người giáo lý viên kiên nhẫn, một người lớn giữ lời hứa, một gia đình đón em trong những sinh hoạt bình thường sẽ giúp em lấy lại niềm tin rằng vẫn có những mối quan hệ an toàn và bền vững.
Gia đình di dân cũng có những vết thương dễ bị bỏ sót. Rời quê không chỉ là đổi nơi làm việc. Đó có thể là mất mạng lưới thân quen, mất người trông con, mất sự hỗ trợ của ông bà, mất cảm giác được biết đến. Ở quê, một người có tên trong lòng nhiều người. Đến nơi mới, họ có thể chỉ là một khuôn mặt thoáng qua. Họ đi lễ giữa đám đông mà không có ai để chào. Khi có người bệnh, họ không biết gọi ai. Khi muốn cho con học giáo lý, họ lo lắng vì chưa hiểu cách tổ chức. Khi gặp khó khăn, họ sợ sự hiện diện tạm thời của mình không đủ để được quan tâm.
Một cộng đoàn đón nhận gia đình di dân cần làm cho họ cảm thấy mình có chỗ ngay từ những điều rất nhỏ. Một lời giới thiệu rõ ràng về người có thể liên hệ. Một người chịu dẫn họ đến nơi cần đến. Một sự linh hoạt hợp lý trong việc tham gia các sinh hoạt. Một lời mời chân thành mà không buộc họ chứng minh rằng mình đã gắn bó đủ lâu. Đừng chỉ nhớ tới họ khi cần thêm nhân lực cho một công việc. Hãy nhớ tới họ khi có niềm vui, khi có bữa gặp gỡ, khi có cơ hội học hỏi, khi có người cần hỏi thăm. Cảm giác thuộc về được hình thành từ những lần được tính đến như một thành viên thật sự.
Với các gia đình trẻ, việc nâng đỡ cần đi vào giai đoạn sau lễ cưới. Ngày cưới có thể được chuẩn bị rất kỹ, nhưng những năm đầu sau đó lại là lúc nhiều đôi phải tự xoay xở. Họ cần học cách sử dụng tiền chung, phân chia trách nhiệm, đối thoại với hai bên gia đình, chăm sóc con, giữ thời giờ cho nhau và điều chỉnh những mong đợi chưa thực tế. Người ta có thể bước vào hôn nhân với tình yêu chân thành mà chưa có khả năng xử lý xung đột. Đào tạo trước hôn nhân là cần thiết, nhưng không thể thay toàn bộ việc đồng hành sau hôn nhân. Khi đứa con đầu lòng ra đời, khi khoản nợ đầu tiên trở nên nặng, khi một người mất việc, khi cha mẹ già cần chăm sóc, các đôi trẻ cần biết có người sẵn sàng cùng họ suy nghĩ.
Với những gia đình đang xa rời đời sống đức tin, điều cần thiết là tìm lại mối liên hệ mà không biến cuộc gặp thành một cuộc kiểm tra. Có người xa vì bận rộn kéo dài rồi thành thói quen. Có người xa vì không còn hiểu ý nghĩa những gì từng làm. Có người xa vì tổn thương trong cộng đoàn. Có người xa vì những lựa chọn của mình và sợ trở lại sẽ bị hỏi. Người đồng hành cần đủ bình tĩnh để không giả định trước nguyên nhân. Một lời “lâu rồi không gặp, tôi nhớ anh chị” có thể mở đầu tốt hơn một chuỗi câu hỏi về bổn phận. Một lời mời uống nước, một sự hỏi thăm về công việc, một lần cùng đi thăm người bệnh có thể nối lại tình bạn, để về sau những câu hỏi về đức tin có nơi được nói thật.
Không phải ai cũng trở lại ngay khi được mời. Có người vẫn từ chối. Có người chỉ nhận cuộc gọi. Có người đến một lần rồi vắng tiếp. Sự quan tâm không nên bị rút lại vì chưa có kết quả như mong muốn. Tất nhiên, cần tôn trọng khi người ta không muốn tiếp tục liên hệ. Nhưng nếu họ còn mở một khoảng nhỏ, chúng ta có thể kiên nhẫn giữ khoảng ấy bằng sự chân thành. Đức tin có những mùa hồi phục rất chậm. Một người có thể mất nhiều năm để nói được điều từng làm mình đau. Cộng đoàn không có quyền ấn định thời hạn để một người phải lành lại.
Đừng để nhà bị thương đứng ngoài cửa cũng có nghĩa là đừng bắt họ đưa vết thương ra trước đám đông để được công nhận. Một gia đình từng vượt qua khủng hoảng có thể có chứng tá quý, nhưng họ có quyền không kể. Những người thân khác trong câu chuyện cũng có phẩm giá và sự riêng tư. Không nên mời một người chia sẻ theo cách khiến họ cảm thấy từ chối là thiếu quảng đại. Không nên biến một cuộc đời đau thành tiết mục tạo xúc động. Chứng tá có giá trị khi được trao tự do, được chuẩn bị cẩn trọng và không làm tổn thương thêm những người liên quan.
Có những gia đình không bao giờ đứng lên kể chuyện, nhưng sự hiện diện lặng lẽ của họ trong cộng đoàn vẫn là một lời chứng. Người mẹ vẫn đưa con đi lễ sau một năm rất khó. Người cha bắt đầu biết ngồi nghe con. Một đôi vợ chồng trở lại cùng nhau sau thời gian lạnh nhạt. Một người từng vắng nay đứng ở cuối nhà thờ và chưa biết nói gì. Cộng đoàn cần biết quý những khởi đầu ấy. Đừng đòi một người vừa bước qua cửa phải lập tức chứng minh rằng mình đã thay đổi hoàn toàn. Có khi điều họ cần là được ngồi yên, nghe Lời Chúa, nhìn lên thánh giá và tin rằng mình còn được phép bắt đầu.
5. Từ những nhà gặp nhau đến một cộng đoàn biết nâng
Một cộng đoàn của các gia đình được hình thành khi sự gặp gỡ trở thành sự quan tâm có trách nhiệm. Nhiều nhà có mặt trong cùng một thánh lễ chưa chắc đã biết nhau. Nhiều đôi tham dự cùng một buổi chuyên đề chưa chắc đã có ai để gọi khi gặp khó. Một buổi sinh hoạt vui có thể tạo thiện cảm, nhưng cộng đoàn cần đi xa hơn thiện cảm. Cần có những mối quan hệ đủ bền để khi một người vắng, có người nhớ; khi một nhà gặp biến cố, có người hỏi; khi một đôi trẻ đang chật vật, có người giúp họ tìm đường; khi một người già cô độc, có người dành thời giờ.
Sự quan tâm ấy cần được tổ chức để không tùy thuộc hoàn toàn vào tình cờ. Mỗi hội đoàn có thể tự hỏi trong phạm vi của mình: những gia đình nào đang cần nâng đỡ, ai có thể đến gần, ai có năng lực phù hợp, khi nào cần giới thiệu đến người có chuyên môn, làm sao giữ sự riêng tư và làm sao không để người đồng hành phải gánh quá sức. Không cần lập một bộ máy nặng nề. Cần một cách làm rõ ràng đủ để lời hứa “chúng tôi sẽ đi cùng” có người thực hiện. Một gia đình đang đau không được nâng đỡ bằng tên của một ban mục vụ. Họ được nâng đỡ khi biết có một người cụ thể, một mối liên hệ cụ thể và một bước tiếp theo cụ thể.
Việc đào tạo cũng phải giúp gia đình sống được giữa đời thường. Một bài nói về tình yêu có thể khơi dậy cảm xúc, nhưng người nghe cần mang về điều có thể thực hành. Làm sao bắt đầu cuộc nói chuyện mà không kết tội? Làm sao nhận ra mình đang quá nóng để tiếp tục tranh luận? Làm sao xin lỗi mà không thêm câu “nhưng tại anh”? Làm sao hỏi con mà không làm con sợ? Làm sao bàn về tiền mà không biến thu nhập thành thước đo phẩm giá? Làm sao cầu nguyện khi trong nhà có người chưa muốn tham gia? Những câu hỏi ấy cần được đưa vào việc đào tạo, bởi đời sống gia đình thường rạn ở những tình huống cụ thể chứ không ở những khẩu hiệu.
Cầu nguyện chung cần có chỗ trong cộng đoàn của các gia đình. Nhưng lời cầu nguyện phải đi cùng sự chăm sóc. Nếu đã cầu nguyện cho một nhà có người bệnh, cần hỏi họ có cần người thay phiên chăm sóc hay không. Nếu đã cầu nguyện cho một người thất nghiệp, cần xem có thể giúp kết nối việc làm nào phù hợp hay không. Nếu đã cầu nguyện cho một đôi đang khủng hoảng, cần giúp họ có cơ hội gặp người đáng tin cậy. Cầu nguyện làm cho hành động được đặt trong tình yêu Chúa; hành động giúp lời cầu nguyện trở nên chân thật trong tương quan với người bên cạnh.
Việc nâng đỡ kinh tế cũng cần giữ phẩm giá của người nhận. Có gia đình cần một khoản trợ giúp khẩn cấp. Có gia đình cần cơ hội việc làm, dụng cụ để làm việc, hỗ trợ học phí hoặc một cách quản lý chi tiêu phù hợp hơn. Không nên buộc họ công khai hoàn cảnh để được giúp. Không nên đưa hình ảnh lên mạng như một điều kiện ngầm của lòng quảng đại. Người nghèo có quyền được kín đáo. Trẻ em có quyền không lớn lên với hình ảnh sự thiếu thốn của nhà mình được dùng để quảng bá một hoạt động. Một cộng đoàn biết yêu sẽ tìm cách làm điều tốt mà người được giúp vẫn có thể ngẩng đầu và cảm thấy mình là anh chị em.
Cũng cần mở rộng sự quan tâm đến những mái nhà ít người nghĩ tới. Một đôi vợ chồng già không có con ở gần. Một người chăm sóc cha mẹ bệnh nhiều năm. Một gia đình có người khuyết tật. Một người góa bụa vẫn xuất hiện đều đặn trong nhà thờ nhưng trở về với căn nhà quá yên. Một đôi chưa có con đang chịu những lời hỏi han thiếu tế nhị. Một người trẻ về nhà mà không tìm được chỗ nói thật. Khi cộng đoàn chỉ quan tâm đến những mẫu gia đình dễ tổ chức sinh hoạt, nhiều người sẽ tiếp tục bị bỏ sót. Số 7 mở ra một hướng chăm sóc; hướng ấy cần giúp chúng ta nhìn rộng hơn và nhìn sâu hơn vào những hoàn cảnh đang có trước mắt.
Một cộng đoàn biết nâng không phải cộng đoàn không còn mâu thuẫn. Đó là cộng đoàn biết xử lý mâu thuẫn mà không bỏ người yếu lại phía sau. Có thể người giúp đỡ và người được giúp không hiểu nhau. Có thể một lời nói vô tình gây đau. Có thể một gia đình cảm thấy mình chưa được quan tâm đúng mức. Những điều ấy cần được nghe và sửa. Nếu cộng đoàn chỉ bảo vệ hình ảnh tốt đẹp của mình, người bị tổn thương sẽ thêm một lần cô độc. Nếu cộng đoàn biết nhận lỗi, làm rõ điều chưa đúng và điều chỉnh cách phục vụ, chính sự sửa chữa ấy trở thành một bài học về hiệp hành.
Các hội đoàn cũng cần nhìn lại cách sử dụng thời giờ. Họp là cần khi giúp công việc rõ hơn và sự phục vụ tốt hơn. Nhưng có những lúc cần bớt một cuộc họp để có thời giờ thăm một gia đình. Có những việc chuẩn bị chương trình có thể giản lược để người phục vụ còn sức về nhà. Có những lễ nghi phụ có thể được sắp xếp lại để cha mẹ có thể tham gia cùng con. Khi mọi việc được nhìn từ nhu cầu thật của các gia đình, cộng đoàn sẽ biết điều gì nên giữ, điều gì nên đổi và điều gì đang chiếm quá nhiều công sức mà chưa đem lại sự nâng đỡ tương xứng.
Cần có cách nhìn lại kết quả, nhưng đừng chỉ đếm số buổi và số người tham dự. Hãy hỏi có gia đình nào trước đây không biết tìm ai, nay đã có người để liên hệ hay không. Có người nào từng sợ nói thật, nay có thể xin giúp hay không. Có đôi nào đã biết một cách đối thoại lành mạnh hơn hay không. Có gia đình di dân nào bắt đầu cảm thấy mình thuộc về giáo xứ hay không. Có đứa trẻ nào trong hoàn cảnh đổ vỡ được chăm sóc tốt hơn hay không. Có người đồng hành nào được đào tạo và nâng đỡ để phục vụ bền vững hơn hay không. Những câu hỏi ấy đưa cộng đoàn trở lại với con người, nơi mục vụ phải sinh hoa trái.
Cuối cùng, không để gia đình đi một mình là một cách sống sứ mạng thừa sai rất gần. Một người hàng xóm nhìn thấy cộng đoàn cùng chăm sóc một gia đình đang khó có thể hiểu điều mà nhiều lời giải thích chưa làm họ hiểu: đức tin tạo nên trách nhiệm đối với nhau. Một đôi trẻ được nâng đỡ đúng lúc có thể về sau trở thành người nâng đỡ đôi khác. Một gia đình di dân được đón nhận có thể mang kinh nghiệm ấy đến nơi mình sẽ sống tiếp. Một đứa trẻ được yêu thương giữa biến cố gia đình có thể lớn lên mà không đồng hóa Hội thánh với sự phán xét. Chứng tá truyền giáo được hình thành từ những việc như vậy, từ một lòng thương xót có tên, có thời giờ và có sự trung thành.
Gia đình trở thành cộng đoàn thừa sai khi biết mở cửa. Hội thánh giúp gia đình sống ơn gọi ấy bằng cách mở cửa cho chính gia đình, nhất là khi họ chưa còn đủ sức mở cửa cho ai. Có những mùa một mái nhà trao ban rất nhiều. Có những mùa mái nhà ấy cần được nhận. Cả hai đều thuộc về đời sống cộng đoàn. Không ai phải xấu hổ vì có lúc cần người khác. Không ai được tự mãn vì có lúc mình đang giúp. Chúng ta cùng đứng dưới một thánh giá, cùng cần được cứu, cùng được mời gọi yêu thương bằng tình yêu đã nhận.
Một giáo xứ biết nâng có thể chưa làm được mọi điều mong muốn. Nguồn lực còn ít, người phục vụ còn thiếu, nhiều hoàn cảnh còn rất khó. Nhưng giáo xứ ấy có thể bắt đầu bằng việc không để sự thiếu thốn của mình trở thành lý do cho sự dửng dưng. Có thể chưa hỗ trợ được một khoản lớn, nhưng có thể lắng nghe. Có thể chưa giải quyết được một khủng hoảng, nhưng có thể giúp tìm đúng người. Có thể chưa có một chương trình hoàn chỉnh, nhưng có thể nhớ tên một gia đình và giữ lời hứa sẽ gọi lại. Những việc nhỏ, khi được thực hiện bền bỉ, tạo nên nơi nương tựa mà các gia đình đang cần.
Những việc có thể bắt đầu ngay
– Mỗi hội đoàn nhìn lại bốn nhóm gia đình được nêu trong chương: gia đình trẻ, gia đình di dân, gia đình ly hôn và gia đình đang xa rời đời sống đức tin. Với mỗi nhóm, hãy tự hỏi đã có mối liên hệ thật với ai, đang hiểu nhu cầu nào và còn bỏ sót điều gì. Việc ghi nhận cần kín đáo, phục vụ sự chăm sóc, tránh biến hoàn cảnh riêng thành thông tin lưu hành.
– Chọn một vài gia đình đồng hành có đời sống đức tin trưởng thành, biết lắng nghe, khiêm tốn và giữ sự riêng tư. Đào tạo họ trước khi giao trách nhiệm, giúp họ biết giới hạn và có người để tìm đến khi gặp tình huống khó.
– Dành thời giờ thăm hỏi trong lịch sinh hoạt. Một lần thăm cần có sự đồng ý, một cuộc gọi cần phù hợp, một lời mời cần cho người được mời quyền từ chối. Sự gần gũi được xây bằng tôn trọng.
– Tạo những buổi gặp nhỏ vừa sức với người có con nhỏ, người làm ca, người ở xa. Có Lời Chúa, có cầu nguyện, có thời giờ nghe và có một việc nâng đỡ cụ thể sau buổi gặp.
– Khi giúp một gia đình, hỏi họ đang cần điều gì thay vì chỉ trao điều mình sẵn có. Khi hoàn cảnh vượt quá khả năng, giúp họ kết nối với người có chuyên môn hoặc người có trách nhiệm phù hợp.
– Khi mời chia sẻ chứng tá, tôn trọng sự tự do và sự riêng tư của cả gia đình. Không gây áp lực để người ta kể chuyện đau, không công khai hình ảnh hoặc chi tiết riêng khi chưa được đồng ý.
– Nhớ đến những gia đình đã lâu không gặp. Bắt đầu bằng một lời hỏi thăm chân thành, một sự quan tâm đến cuộc sống hiện tại. Kiên nhẫn để tình bạn được nối lại và những câu chuyện có thời giờ mở ra.
– Chăm sóc cả người đang phục vụ. Giúp họ có thời giờ cho mái nhà của mình, được nghỉ, được hướng dẫn và không phải một mình mang mọi nỗi đau của các gia đình được giao.
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu, có những gia đình vẫn sống ngay bên cạnh chúng con mà chúng con chưa thật sự biết họ. Chúng con biết tên họ, biết chỗ họ ngồi trong nhà thờ, biết đôi lần họ đã tham gia sinh hoạt, nhưng chưa biết những đêm họ không ngủ, những bữa cơm họ phải tính từng đồng, những lời họ muốn nói mà không tìm được người nghe. Xin tha thứ cho chúng con khi đã nhìn sự vắng mặt mà không tìm hiểu nỗi mệt, đã nhắc bổn phận mà chưa chia gánh nặng, đã mong người khác mạnh lên mà chưa đưa tay nâng họ.
Xin cho các hội đoàn và phong trào của chúng con có lòng đủ rộng để đón người đang yếu, có sự kiên nhẫn để đi cùng người đang chậm, có sự khiêm tốn để nhận ra điều mình chưa hiểu. Xin cho chúng con biết giữ kín những điều được trao, biết hỏi trước khi bước vào, biết lắng nghe trước khi hướng dẫn và biết tìm sự trợ giúp đúng lúc. Xin đừng để nhiệt tình của chúng con trở thành áp lực, đừng để lời nói về lòng thương xót đi trước một đời sống chưa biết thương.
Xin nâng đỡ những đôi vợ chồng trẻ đang học yêu thương giữa bao thiếu thốn. Xin gìn giữ những gia đình di dân đang tìm một nơi thuộc về. Xin ở gần những người mang nỗi đau ly thân, ly hôn, những người đang một mình chăm con và những đứa trẻ đang cần một sự hiện diện an toàn. Xin chạm đến những gia đình đã lâu xa đời sống đức tin, để giữa những điều còn ngổn ngang, họ gặp được một người đủ hiền mà tin rằng vẫn còn đường trở về.
Xin chăm sóc cả những người đang chăm sóc người khác. Xin giữ cho họ khỏi kiệt sức, khỏi tự mãn, khỏi thất vọng khi chưa thấy kết quả. Xin dạy họ trở về với Chúa và với gia đình mình, để sự phục vụ được nuôi bằng tình yêu thật. Xin cho cộng đoàn chúng con có những người biết nhấc máy, biết giữ lời, biết đến đúng lúc và biết ở lại trong những mùa khó.
Lạy Chúa, Chúa đã mang lấy gánh nặng của chúng con. Xin cho chúng con học nơi Chúa để mang gánh nặng cho nhau. Xin cho người mệt có chỗ ngồi, người đau có người nghe, người lạc có người tìm và gia đình bị thương có nơi được nâng đỡ. Xin cho mỗi mái nhà, khi cần, có thể nói với cộng đoàn một câu thật đơn sơ mà không sợ: “Xin giúp chúng tôi đi qua đoạn đường này.” Và xin cho cộng đoàn chúng con có thể đáp lại bằng cả đời sống: “Chúng tôi ở đây. Chúng ta cùng đi.” Amen.
 

Nguồn tin:  Lm Anmai, CSsR::

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Thống kê

  • Đang truy cập41
  • Hôm nay11,911
  • Tháng hiện tại61,106
  • Tổng lượt truy cập45,352,166
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây