NGÔI MỘ TRỐNG VÀ LỆNH LÊN ĐƯỜNG: PHỤC SINH MANG CHIỀU KÍCH TRUYỀN GIÁO

Thứ hai - 06/04/2026 23:31
unnamed (6)
unnamed (6)
Khi nói đến Chúa Nhật Phục Sinh, chúng ta thường nghĩ ngay đến niềm vui, đến chiến thắng của Chúa trên sự chết, đến ánh sáng bừng lên sau những ngày thập giá. Tất cả đều đúng. Nhưng có một chiều kích rất quan trọng của lễ Phục Sinh mà nhiều khi chúng ta chưa suy đủ, đó là chiều kích truyền giáo. Chúa sống lại không chỉ để các môn đệ vui mừng cho riêng mình. Chúa sống lại không chỉ để một nhóm người tin mà thôi. Chúa sống lại để Tin Mừng được loan đi đến tận cùng trái đất. Ngôi mộ trống không phải là nơi giữ người ta đứng lại, nhưng là nơi đẩy người ta lên đường.
Tin Mừng theo thánh Gioan trong ngày lễ sáng nay kể rằng: Maria Mađalêna chạy đi báo tin cho Phêrô và người môn đệ Chúa yêu. Rồi hai môn đệ ấy cũng chạy ra mộ. Ngay từ những phút đầu tiên của biến cố Phục Sinh, đã có một chuyển động của việc loan báo. Maria không giữ điều mình thấy cho riêng mình. Bà chạy đi. Bà báo tin. Dù lúc đầu bà chưa hiểu trọn vẹn, bà vẫn trở thành người khởi đầu cho dòng chảy loan báo biến cố lớn lao ấy. Điều này thật sâu sắc. Chúa dùng cả những con người đang còn run rẩy, còn bối rối, còn chưa hiểu hết, để bắt đầu công việc của Người.
Điều đó an ủi chúng ta rất nhiều. Vì nhiều khi ta nghĩ rằng phải thật thánh, thật giỏi, thật hoàn hảo rồi mới có thể nói về Chúa. Nhưng không. Chúa không chờ con người hoàn chỉnh mới sai đi. Chúa sai những người đang được Người chạm đến. Điều quan trọng không phải là mình đã hiểu hết mọi điều, nhưng là mình có thật sự gặp Chúa hay không. Một người đã thật sự chạm vào Chúa phục sinh, dù còn đơn sơ, vẫn có thể trở thành chứng nhân. Ngược lại, một người biết rất nhiều về Chúa mà không có kinh nghiệm gặp gỡ sống động với Người, thì việc loan báo dễ chỉ còn là lời nói.
Ngôi mộ trống là trung tâm của Tin Mừng Phục Sinh. Nhưng ngôi mộ trống tự nó không phải là điểm kết thúc. Nó là điểm khởi đầu. Các môn đệ không được gọi để ngồi mãi trước mồ mà ngắm nhìn. Họ phải đi ra khỏi đó. Họ phải bước vào một lịch sử mới. Họ phải loan báo rằng sự chết không còn làm chủ nữa. Họ phải nói với thế giới rằng Đấng bị đóng đinh nay đang sống. Nếu các môn đệ chỉ giữ niềm tin ấy cho riêng mình, thì Hội Thánh đã không bao giờ được sinh ra. Chính từ buổi sáng ấy, một dân mới bắt đầu hình thành: dân của những người được sai đi.
Anh chị em thân mến, người Kitô hữu không thể chỉ là người “giữ đạo” theo nghĩa hẹp. Người Kitô hữu còn là người mang đạo, người mang Tin Mừng, người phản chiếu Chúa. Chúng ta không được cứu chỉ để yên tâm cho phần linh hồn mình. Chúng ta được cứu để cộng tác vào công trình cứu độ của Chúa cho người khác. Mỗi lần mừng lễ Phục Sinh mà không cảm thấy một thúc đẩy lên đường, một thao thức loan báo, một trách nhiệm sống chứng tá, thì có lẽ ta vẫn chưa để mầu nhiệm ấy chạm tới trọn vẹn.
Truyền giáo trước hết không phải là đi rất xa, nhưng là sống sao để người khác nhận ra Chúa đang sống. Trong một thế giới đầy chia rẽ, một người biết yêu thương là lời loan báo. Trong một xã hội dễ gian dối, một người sống sự thật là lời loan báo. Trong một thời đại đầy cay nghiệt, một người hiền lành là lời loan báo. Trong một môi trường đầy tuyệt vọng, một người vẫn giữ niềm hy vọng là lời loan báo. Truyền giáo không khởi đầu bằng kỹ thuật, nhưng bằng đời sống đã được biến đổi bởi Chúa phục sinh.
Nhiều người nghĩ truyền giáo là việc của linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, những người hoạt động mục vụ. Nhưng thật ra, truyền giáo là căn tính của toàn thể Hội Thánh. Một người mẹ truyền giáo khi dạy con biết làm dấu thánh giá, biết đọc kinh tối, biết tôn kính Chúa. Một người cha truyền giáo khi sống lương thiện, giữ lòng trung tín, đưa gia đình đi lễ, không chỉ nói mà còn làm gương. Một người trẻ truyền giáo khi giữ mình trong sạch giữa một thế giới dễ dãi, khi dám sống tử tế, dám nói về đức tin mà không xấu hổ. Một người đau bệnh truyền giáo khi kết hiệp đau khổ của mình với Chúa và sống với bình an khiến người khác ngạc nhiên. Một người già truyền giáo khi trung thành cầu nguyện, trở thành cột trụ âm thầm cho con cháu.
Chúng ta phải nhìn lại đời sống giáo xứ, đời sống cộng đoàn, đời sống từng gia đình trong ánh sáng ấy. Có khi chúng ta lo rất nhiều việc trong nhà thờ, nhưng lại quên mất chiều kích truyền giáo. Ta chăm sóc người đã ở trong nhà, nhưng ít nghĩ đến người đang ở ngoài cửa. Ta làm nhiều sinh hoạt cho người quen, nhưng ít mở lòng ra với người xa lạ, người nguội lạnh, người đang tìm kiếm, người đã bỏ đạo, người đang bị thương tích bởi cuộc đời. Phục Sinh mời ta bước ra khỏi sự khép kín đó. Đấng sống lại không chỉ thuộc về nhóm môn đệ đang tin, nhưng thuộc về cả thế giới mà Chúa Cha yêu thương.
Trong Tin Mừng, người môn đệ Chúa yêu “đã thấy và đã tin.” Nhưng nếu chỉ dừng ở chỗ “tin cho mình” thì chưa đủ. Niềm tin thật luôn sinh hoa trái là việc loan báo. Ai tin Chúa đang sống thì không thể sống như thể Chúa vắng mặt khỏi thế giới. Ai tin Chúa đã thắng sự chết thì không thể để cuộc đời mình trở thành một tiếng nói của bi quan. Ai tin Chúa đã mở một tương lai mới cho con người thì không thể khép kín trong những ích kỷ nhỏ hẹp. Niềm tin Phục Sinh phải nở ra thành sứ mạng.
Có một cách truyền giáo rất mạnh hôm nay, đó là truyền giáo bằng hy vọng. Thế giới hiện đại có nhiều tiện nghi hơn, nhưng cũng đầy lo âu, trống rỗng, khủng hoảng ý nghĩa. Người ta có thể cười ngoài mặt nhưng bên trong rất mệt. Người ta có thể thành công nhưng không bình an. Người ta có thể kết nối khắp nơi mà vẫn cô đơn. Trong một thế giới như thế, người Kitô hữu sống hy vọng là một chứng từ rất mạnh. Không phải hy vọng ngây thơ, nhưng là hy vọng đặt trên Đấng đã đi qua cái chết. Một người biết rằng đời mình nằm trong tay Chúa, rằng nỗi đau không vô ích, rằng tội lỗi có thể được tha, rằng cái chết không phải là hết, người ấy tự nhiên sẽ phát ra một ánh sáng khác. Và ánh sáng ấy là truyền giáo.
Truyền giáo cũng đòi ta can đảm bước ra khỏi sự xấu hổ về đức tin. Nhiều người ngày nay ngại nói mình là người Công giáo. Họ giữ đạo như một chuyện riêng tư kín đáo đến mức chẳng ai quanh họ thấy được gì. Dĩ nhiên đức tin không phải để phô trương. Nhưng cũng không thể vì sợ người ta nghĩ gì mà giấu luôn căn tính của mình. Chúa đã chịu đóng đinh công khai vì yêu chúng ta. Chúa đã sống lại để công khai khai mở ơn cứu độ. Vậy tại sao ta lại ngại sống thuộc về Người? Một dấu thánh giá trước bữa ăn, một lời mời ai đó đi lễ, một câu chia sẻ về Chúa trong lúc thích hợp, một quyết định không làm điều sai dù bị áp lực, tất cả đều là những hình thức loan báo rất cụ thể.
Anh chị em thân mến, truyền giáo không luôn dễ. Các môn đệ sau này sẽ bị chống đối, bị bách hại, bị chế nhạo. Nhưng họ vẫn lên đường vì họ không thể im lặng về điều mắt đã thấy tai đã nghe. Đây là điểm cốt lõi: ai thật sự gặp Chúa thì khó mà im lặng mãi. Nếu ta rất dễ im lặng về Chúa, có lẽ vì ta chưa để kinh nghiệm gặp gỡ ấy đụng sâu tới lòng mình. Một ngọn lửa thật thì phải phát nhiệt. Một niềm vui thật thì phải lan. Một biến cố lớn như Phục Sinh không thể chỉ nằm yên trong vài công thức giáo lý.
Hôm nay, mỗi người chúng ta hãy tự hỏi: đời tôi có mang chiều kích truyền giáo của Phục Sinh chưa? Gia đình tôi có phải là nơi phát ra Tin Mừng không? Những người sống gần tôi có nhận ra niềm vui, bình an, lòng thương xót và sự thật của Chúa nơi tôi không? Tôi có đang cầu nguyện cho những người xa Chúa không? Tôi có thao thức cho một người con đã bỏ lễ, một người bạn đang khủng hoảng, một người thân nguội lạnh, một hàng xóm chưa biết Chúa không? Tôi có dám trở thành nhịp cầu đưa ai đó đến gần Chúa hơn không?
Có thể truyền giáo lớn nhất cha mẹ làm không phải là nói những bài giáo lý dài, nhưng là cho con cái thấy một đức tin sống động. Có thể truyền giáo lớn nhất của một linh mục không phải là những chương trình thật lớn, nhưng là một đời mục tử gần dân, yêu dân, cầu nguyện và hiến mình. Có thể truyền giáo lớn nhất của một cộng đoàn không phải là những khẩu hiệu, nhưng là tình hiệp nhất, bác ái, và một bầu khí khiến người ngoài nhìn vào mà thốt lên: nơi đây có Chúa.
Ngôi mộ trống hôm nay không chỉ nói rằng Chúa đã sống lại. Nó còn nói rằng từ đây không ai được phép giữ mình trong sự đóng kín nữa. Chúa đã ra khỏi mộ. Hội Thánh cũng phải ra khỏi những an toàn của mình. Người tín hữu cũng phải ra khỏi những sợ hãi, lười biếng, thờ ơ của mình. Phục Sinh là lệnh lên đường. Không phải lên đường bằng ồn ào, nhưng bằng chứng tá. Không phải lên đường trước hết bằng lời nói, nhưng bằng đời sống. Không phải để khoe mình có đạo, nhưng để cho thế giới biết rằng Thiên Chúa vẫn đang sống và vẫn yêu con người.
Xin Chúa Phục Sinh thắp lên trong cộng đoàn chúng ta lửa truyền giáo. Xin Người làm cho mỗi gia đình trở thành một “nhà truyền giáo nhỏ.” Xin Người cho các bạn trẻ dám sống khác để làm chứng cho Chúa. Xin Người cho những người đau khổ biết dâng chính thập giá của mình như một lời loan báo âm thầm. Xin Người cho các linh mục, tu sĩ và giáo dân đều cảm thấy trong tim mình một thao thức: không ai được mất Chúa chỉ vì tôi đã im lặng quá lâu.
Và xin cho mỗi lần hát Alleluia hôm nay, chúng ta cũng nghe như một lệnh sai đi của Đấng Phục Sinh: hãy đi, hãy sống, hãy làm chứng, hãy loan báo rằng Thầy đang sống.
 

Nguồn tin: Lm. Anmai, CSsR.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Thống kê

  • Đang truy cập159
  • Hôm nay8,681
  • Tháng hiện tại83,907
  • Tổng lượt truy cập42,995,191
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây