VẤP PHẠM VÌ ĐIỀU QUÁ QUEN THUỘC – BI KỊCH CỦA MỘT ĐỨC TIN KHÔNG DÁM ĐI ĐẾN TẬN CÙNG

Thứ hai - 02/02/2026 22:04
tải xuống (6)
tải xuống (6)
Dân làng Nadarét, quê hương của Đức Giêsu, đã không tin vào Ngài. Điều ấy nghe qua tưởng như vô lý, bởi chính họ là những người đã từng thấy Ngài lớn lên, từng nghe Ngài nói, từng kinh ngạc và sửng sốt trước sự khôn ngoan tỏa ra từ lời giảng của Ngài. Thế nhưng Tin Mừng lại cho chúng ta thấy một nghịch lý cay đắng: càng quen, họ càng không tin; càng gần, họ càng vấp phạm. Câu hỏi của họ vang lên không chỉ như một thắc mắc, mà như một bức tường khép kín lòng mình: “Ông này chẳng phải là bác thợ mộc, con bà Maria sao?” Chính câu hỏi ấy đã đóng sập cánh cửa đức tin, bởi nó không tìm kiếm sự thật, mà tìm cớ để khước từ.
Sự ngạc nhiên của họ là có thật, nhưng sự ngạc nhiên ấy không dẫn họ đến niềm tin. Họ sửng sốt trước lời giảng dạy của Đức Giêsu, nhưng lại để cho nguồn gốc gia đình, thân thế khiêm tốn của Ngài trở thành cái cớ để phủ nhận sứ vụ của Ngài. Họ không phủ nhận rằng Ngài nói hay, nhưng họ không chấp nhận rằng Ngài là Đấng được Thiên Chúa sai đến. Đối với họ, một bác thợ mộc, con của một người phụ nữ bình thường nơi làng quê nghèo Nadarét, thì không thể là Đấng Mêssia. Và như thế, chính cái nhìn thuần túy phàm trần đã trói buộc họ, khiến họ không thể vượt qua điều mắt thấy tai nghe để bước vào mầu nhiệm.
Điều này không phải là điều lạ lẫm trong bối cảnh tôn giáo Do Thái thời bấy giờ. Nhiều người Do Thái mang trong mình một niềm tin khá phổ biến rằng Đấng Kitô phải có một nguồn gốc siêu phàm, huyền nhiệm, xuất hiện cách vinh quang, gây chấn động, khiến mọi người lập tức nhận ra. Thánh Giustinô, khi đối thoại với người Do Thái là Tryphon vào khoảng năm 150, đã làm vang vọng lại niềm tin ấy khi thuật lại ý niệm của các học giả Do Thái: nếu Đấng Mêssia đã đến, người ta cũng không thể biết, chỉ khi Ngài tỏ mình ra trong vinh quang thì thiên hạ mới nhận ra ngay Ngài là Đấng Kitô. Một Đấng Mêssia âm thầm, khiêm hạ, lớn lên giữa một làng quê nhỏ bé, lại càng khó chấp nhận hơn.
Chính vì mang trong đầu một khuôn mẫu có sẵn như thế, dân làng Nadarét đã không thể mở lòng đón nhận Đức Giêsu. Họ không để cho Thiên Chúa tự do hành động theo cách của Ngài, mà muốn Ngài phải hành động theo cách họ mong đợi. Và khi thực tế không khớp với mong đợi ấy, họ vấp phạm. Tin Mừng nói một cách thẳng thắn: “Họ đã vấp phạm vì Người”. Sự vấp phạm ấy không chỉ là một phản ứng nhất thời, mà là một thái độ cố chấp cứng tin, đến độ chính Đức Giêsu cũng lấy làm lạ vì họ không tin.
Sự cố chấp ấy không chỉ xuất phát từ sự hiểu biết hạn hẹp, mà còn được nuôi dưỡng bởi lòng ghen ghét và đố kị. Khi một người quá quen thuộc bỗng trở nên nổi bật, khi một người mà ta từng coi là bình thường lại nói những lời làm ta phải suy nghĩ, phải thay đổi, thì trong lòng con người rất dễ nảy sinh sự khó chịu. Thánh Gioan Kim Khẩu đã nói rất rõ: sự đố kị ghen ghét đi vào trong trái tim và đặt họ vào tình trạng chống đối với Đức Kitô. Họ không thể chấp nhận rằng Thiên Chúa lại hành động nơi một con người gần gũi đến thế, quen thuộc đến thế, bởi điều đó buộc họ phải thay đổi cái nhìn về chính mình và về Thiên Chúa.
Khi suy gẫm thái độ cố chấp cứng tin của dân làng Nadarét, chúng ta không thể dừng lại ở việc phê phán họ. Bởi lẽ, đó không chỉ là câu chuyện của một ngôi làng nhỏ cách đây hai ngàn năm, mà là một hiện tượng mang tính phổ quát, lặp đi lặp lại trong mọi thời đại. Ở đâu có con người, ở đó có nguy cơ khước từ Thiên Chúa vì Ngài đến quá gần, quá quen, quá không phù hợp với những khuôn mẫu ta tự vẽ ra.
Ngày hôm nay, hiện tượng ấy vẫn đang diễn ra, cả trên bình diện tập thể lẫn cá nhân. Trên bình diện tập thể, nhiều xã hội từng được nuôi dưỡng trong nền văn hóa Kitô giáo, như ở Âu châu hay Bắc Mỹ, lại đang dần tục hóa, chối bỏ nguồn gốc đức tin của mình. Người ta hưởng thụ những giá trị nhân bản, tự do, phẩm giá con người – vốn được nuôi lớn từ Kitô giáo – nhưng lại muốn gạt Thiên Chúa ra khỏi đời sống công cộng, khỏi suy tư và quyết định của xã hội. Đó cũng là một cách nói rằng: chúng tôi biết Ngài là ai rồi, chúng tôi không cần Ngài nữa.
Trên bình diện cá thể, hiện tượng ấy lại càng tinh vi và khó nhận ra hơn. Nhiều người vẫn xưng mình là có đức tin, vẫn tin vào Đức Kitô, vào Thiên Chúa, nhưng cách sống đức tin lại trở nên hời hợt, nửa vời. Họ mang tâm trạng rất quen thuộc mà dân gian gọi là “Bụt nhà không thiêng”. Điều gần gũi quá thì không còn được trân trọng. Điều quen thuộc quá thì không còn làm ta rung động. Thiên Chúa ở đó, nhưng như một điều hiển nhiên, không còn là trung tâm sống động của đời mình.
Có những người vẫn tin, nhưng là một niềm tin bị chia nhỏ, bị xé vụn bởi vô vàn ưu tiên khác. Họ dồn tất cả sức lực, thời gian và tâm trí cho giấc mơ tiền tài, vật chất, địa vị, thành công, còn đức tin thì chỉ giữ lại một góc nhỏ, đủ để an tâm rằng mình vẫn “có đạo”. Cách thực hành niềm tin ấy mang rất rõ dấu ấn của thái độ: “Gần chùa gọi Bụt bằng anh”. Tin Chúa, nhưng không để Chúa chất vấn cách sống của mình. Tin Chúa, nhưng không để Lời Chúa chạm đến những chọn lựa cụ thể trong đời sống hằng ngày.
Lời của thánh Gioan vang lên như một bản tóm kết đau xót cho thái độ ấy: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”. Đức Kitô không đến như một kẻ xa lạ, Ngài đến nhà mình, đến với những người mang danh là dân riêng, là tín hữu, là những người tưởng như phải hiểu Ngài nhất. Thế nhưng chính ở đó, Ngài lại bị khước từ, không phải bằng những lời lăng mạ công khai, mà bằng sự hững hờ, bằng thái độ nửa tin nửa ngờ, bằng cách sống như thể Ngài không thực sự quan trọng.
Hôm nay, khi nhìn vào thái độ của dân làng Nadarét đối với Đức Kitô – vấp phạm vì Ngài, cố chấp không tin – chúng ta được mời gọi quay về xét lại thái độ đức tin của chính mình. Tin hay không tin không chỉ thể hiện nơi lời tuyên xưng bằng miệng, mà nơi cách sống mỗi ngày. Rất có thể, chúng ta cũng đang mang thái độ của dân làng Nadarét, không phải bằng lời nói, mà bằng cách sống: sống hững hờ với đức tin, sống so đo thiệt hơn, ích kỷ trong tính toán tiền bạc, cơm áo gạo tiền, mà quên rằng tin là chấp nhận để cho Thiên Chúa định hướng toàn bộ cuộc đời mình.
Tin không chỉ là trung thành khi mọi sự êm ả, khi đời sống đủ đầy, khi mọi thứ diễn ra theo ý mình. Tin còn là trung thành khi gặp khó khăn, khi phải hy sinh, khi phải đi ngược lại dòng chảy của xã hội, khi phải chọn Thiên Chúa thay vì những lợi ích trước mắt. Tin là dám để cho Đức Kitô, Đấng rất quen thuộc, rất gần gũi, trở thành Đấng có quyền chất vấn, uốn nắn và biến đổi cuộc đời mình.
Nếu dân làng Nadarét đã đánh mất cơ hội gặp gỡ Đấng Cứu Thế vì họ quá quen với Ngài, thì chúng ta cũng có thể đánh mất chính mầu nhiệm đức tin của mình nếu coi Thiên Chúa như một điều hiển nhiên, không còn làm ta thao thức. Ước gì Lời Chúa hôm nay đánh thức chúng ta khỏi sự quen lờn nguy hiểm ấy, để chúng ta học lại cách ngạc nhiên trước Đức Kitô, cách kính sợ và yêu mến Ngài không chỉ bằng lời nói, mà bằng một đời sống trung thành, nhất quán và trọn vẹn.

 

Nguồn tin: Lm. Anmai, CSsR

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Thống kê

  • Đang truy cập47
  • Hôm nay14,963
  • Tháng hiện tại37,605
  • Tổng lượt truy cập42,121,051
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây