Câu chuyện Tin Mừng hôm nay mở ra với một khung cảnh đầy tính đối kháng, một sự va chạm không thể tránh khỏi giữa cái cũ và cái mới, giữa những lề luật nghiêm ngặt của truyền thống và sự tự do đầy ân sủng mà Đức Giê-su mang lại, khi các môn đệ của ông Gio-an và những người biệt phái đến chất vấn Đức Giê-su về việc tại sao môn đệ của Ngài không ăn chay, họ không chỉ đang đặt một câu hỏi về nghi thức ăn uống, mà họ đang nhân danh cả một bề dày lịch sử đạo đức của Do Thái giáo để thách thức lối sống của một phong trào tôn giáo mới đang hình thành, đối với người Do Thái vào đầu thế kỷ thứ nhất, ăn chay không đơn thuần là việc kiêng khem thực phẩm để rèn luyện ý chí hay tốt cho sức khỏe như quan niệm hiện đại, mà ăn chay mang một ý nghĩa thần học và cánh chung cực kỳ quan trọng, họ ăn chay để sám hối tội lỗi thay cho toàn dân, ăn chay để "ép" Thiên Chúa đoái thương và nhất là để chuẩn bị tâm hồn đón gặp Đấng Mê-si-a, Đấng Thiên Sai mà muôn thế hệ hằng mong đợi, trong bối cảnh xã hội đầy bất ổn dưới ách đô hộ của Đế quốc La Mã, niềm khát khao giải phóng càng trở nên cháy bỏng, khiến cho việc giữ chay của nhóm môn đệ Gio-an và những người biệt phái càng trở nên nhiệm nhặt, khắc khổ và mang đầy màu sắc bi tráng của sự chờ đợi, chính vì thế, khi nhìn thấy các môn đệ của Đức Giê-su ăn uống bình thường, thậm chí là vui vẻ, họ cảm thấy chướng tai gai mắt, họ cho rằng nhóm người này thiếu nghiêm túc, thiếu lòng đạo đức và dửng dưng trước nỗi đau của dân tộc.
Tuy nhiên, Đức Giê-su đã đứng ra bênh vực các môn đệ của mình, và qua đó, Ngài mạc khải một chân lý làm đảo lộn mọi suy nghĩ của con người: Đấng Mê-si-a mà họ đang mòn mỏi ăn chay để chờ đợi, thực ra đang đứng ngay trước mặt họ, câu trả lời của Đức Giê-su: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ?" là một lời tuyên bố chấn động về thời điểm ân sủng, hay còn gọi là "kairos" - thời gian sủng mãn, Đức Giê-su tự ví mình là Chàng Rể, và thời gian Ngài hiện diện trên trần gian chính là Tiệc Cưới Nước Trời, trong văn hóa Do Thái cũng như văn hóa nhân loại, tiệc cưới là đỉnh cao của niềm vui, là lúc con người tạm gác lại mọi âu lo, sầu muộn để chúc tụng tình yêu và sự sống, việc ăn chay trong tiệc cưới không chỉ là vô duyên, mà còn là một sự xúc phạm đến tân lang và tân nương, là sự từ chối niềm vui mà gia chủ ban tặng, qua hình ảnh này, Đức Giê-su muốn nói rằng: Đạo của Ngài không phải là đạo của sự ủ rũ, u sầu, của những khuôn mặt đưa đám, mà là đạo của Tin Mừng, của niềm vui ơn cứu độ, việc thiện, việc đạo đức như ăn chay là tốt, nhưng phải biết làm đúng lúc, đúng nơi và đúng ý nghĩa, những người biệt phái và môn đệ Gio-an đã mắc kẹt trong cái vỏ hình thức mà quên mất cái ruột ý nghĩa, họ giữ chay để mong Đấng Cứu Thế, nhưng khi Đấng Cứu Thế đến, họ lại dùng chính việc giữ chay ấy để chống lại Ngài, đây là một bi kịch của sự mù quáng tâm linh, khi phương tiện (ăn chay) bị biến thành mục đích, và con người trở nên nô lệ cho chính những việc đạo đức do mình đặt ra.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta một sự thay đổi tận căn trong cái nhìn về đời sống đức tin, Đức Giê-su khẳng định: "Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được", điều này có nghĩa là đặc tính căn bản của người Kitô hữu phải là niềm vui, chúng ta không phải là những kẻ đi tìm kiếm một Thiên Chúa ẩn mặt, xa xôi, mà là những người đã gặp được Người Yêu, đã được mời vào bàn tiệc của sự hiệp thông, bao lần chúng ta hát "Chúa chính là mùa xuân con mong chờ", nhưng trong thực tế cuộc sống, liệu niềm vui có Chúa có thực sự hiện diện trên khuôn mặt và trong cách hành xử của chúng ta hay không, hay chúng ta vẫn mang một bộ mặt sầu não, hay than vãn, hay cằn nhằn và xét nét người khác như những người biệt phái năm xưa, sống với Chúa là một niềm vui lớn lao, niềm vui của sự được yêu thương, được tha thứ và được trao ban sứ vụ, ngay cả khi chúng ta phải đối diện với những giới hạn của bản thân, phải ăn năn sám hối, thì sâu thẳm trong sự thống hối ấy vẫn là niềm vui bình an vì biết rằng mình đang trở về trong vòng tay của Người Cha nhân hậu, các thánh là những người đã sống trọn vẹn tinh thần này, các ngài không bao giờ tuyệt vọng, không bao giờ để cho hoàn cảnh bên ngoài dập tắt ngọn lửa hân hoan bên trong, dù có phải vác thập giá, các ngài vẫn vác với nụ cười, bởi vì các ngài biết rằng thập giá đó là do chính Chàng Rể Giê-su trao tặng như một kỷ vật của tình yêu.
Thế nhưng, Đức Giê-su cũng không loại bỏ hoàn toàn việc ăn chay, Ngài nói tiếp một câu đầy ẩn ý và nhuốm màu đau thương: "Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi khỏi họ, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó", đây là lời tiên báo về cuộc Khổ Nạn, về cái chết trên thập giá và sự vắng mặt hữu hình của Ngài sau khi về trời, lúc đó, việc ăn chay của người môn đệ sẽ mang một ý nghĩa mới, không còn là để chờ đợi Đấng Mê-si-a đến lần đầu, mà là biểu lộ sự hiệp thông với nỗi đau của Chàng Rể, là sự tỉnh thức chờ đợi ngày Ngài quang lâm vinh hiển, và là sự liên đới với những khổ đau của nhân loại, sống trong giai đoạn hiện tại, giai đoạn mà "Chàng Rể đã bị đem đi" về mặt thể lý nhưng lại hiện diện về mặt bí tích, chúng ta phải biết kết hợp cả hai thái độ: vừa hân hoan vui mừng vì Chúa đã Phục Sinh và đang ở cùng chúng ta trong Bí tích Thánh Thể, vừa biết hãm mình, chay tịnh để chiến đấu chống lại sự cám dỗ, để thanh luyện tâm hồn đón chờ ngày sum họp vĩnh cửu, vấn đề quan trọng không phải là ăn chay nhiều hay ít, mà là ý thức ý nghĩa của việc ăn chay, sống trong giai đoạn nào thì phải theo tinh thần của giai đoạn ấy, và tinh thần chủ đạo của thời đại ân sủng này là "Rượu mới thì bình cũng phải mới".
Hình ảnh "Rượu mới, bầu da mới" mà Đức Giê-su đưa ra là một lời cảnh tỉnh mạnh mẽ về sự xơ cứng trong tâm hồn, rượu mới là Tin Mừng đầy sức sống, đầy năng động và có sức bùng nổ, bầu da cũ là những nếp nghĩ hẹp hòi, những định kiến bảo thủ, những thói quen giữ đạo hình thức thiếu tình yêu, nếu chúng ta cố nhốt Chúa Thánh Thần vào trong những khuôn khổ chật hẹp của sự an toàn giả tạo, chúng ta sẽ làm "nứt bầu", nghĩa là làm tổn thương chính đức tin của mình và làm biến dạng khuôn mặt của Thiên Chúa, đừng vội phê bình người khác khi chưa nắm vững hoàn cảnh sự kiện, đừng lấy thước đo đạo đức của mình để ép buộc người khác, vì mỗi người có một hành trình gặp gỡ Chúa khác nhau, Thiên Chúa lớn hơn mọi lề luật, và lòng thương xót của Ngài vượt lên trên mọi nghi thức, sự cứng nhắc của người biệt phái đã khiến họ không nhận ra giờ Thiên Chúa viếng thăm, xin cho chúng ta đừng đi vào vết xe đổ ấy, nhưng biết mở rộng tâm hồn như chiếc "bầu da mới" mềm mại, dẻo dai để đón nhận sự hướng dẫn đầy bất ngờ của Thần Khí.
Và khi nói về niềm vui của người môn đệ, chúng ta không thể né tránh thực tế của đau khổ, nhiều người sẽ hỏi: Làm sao có thể vui được khi thất nghiệp, khi bệnh tật, khi gia đình tan vỡ? Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta một cái nhìn sâu sắc hơn: Ta vui cười ngay trong đau khổ, vì đau khổ trong cái nhìn đức tin không phải luôn là hình phạt, nhưng có khi là nguyên do của một niềm vui lớn hơn đang thai nghén, Chúa Giê-su đã ví dụ về hạt lúa mì: nếu nó không rơi xuống đất và thối đi, nó sẽ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó chết đi, nó sẽ sinh nhiều bông hạt, cũng như người mẹ khi sinh con thì đau đớn, nhưng nỗi đau ấy nhanh chóng bị quên lãng bởi niềm vui khi thấy một sinh linh chào đời, người Kitô hữu không phải là người đi tìm đau khổ (masochist), nhưng là người biết nhìn xuyên qua đau khổ để thấy ánh sáng của hy vọng, chúng ta mỉm cười khi thất bại, không phải vì chúng ta vô cảm, mà vì chúng ta tin rằng thất bại là một phần của quá trình trưởng thành, và "Chúa vẽ đường thẳng bằng những nét cong", có khi sự thất bại hôm nay lại là cách Chúa cứu chúng ta khỏi sự kiêu ngạo, và mở ra một cánh cửa khác tốt đẹp hơn mà chúng ta chưa nhìn thấy.
Để diễn tả niềm hy vọng kiên cường này, thi sĩ Alfred de Musset đã có những vần thơ đầy ám ảnh về con chim mẹ: "Tôi đi qua cánh đồng / Một con chim hát trên tổ / Dưới chân nó, bầy chim con chết lăn lóc / Thế mà chim mẹ vẫn hát trong cảnh bình minh", hình ảnh này gợi lên một sự bi tráng đến thắt lòng, trước cái chết của đàn con, trước sự mất mát tột cùng, con chim mẹ vẫn cất tiếng hót, tiếng hót ấy không phải là sự vô tâm, mà là tiếng hót của sự sống chống lại cái chết, của ánh sáng chống lại bóng tối, là lời khẳng định rằng dù sự dữ có hoành hành đến đâu, nó cũng không thể dập tắt được tiếng ca của sự sống, tâm hồn người tín hữu cũng phải mạnh mẽ như vậy: "Hỡi hồn ta, mày đừng khóc nữa / Vì cho đi mày mất hết mọi sự / Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời thanh thẳm / Vẫn là nguồn hy vọng ở trần gian cho mày", đúng vậy, khi chúng ta mất hết, khi chúng ta không còn gì để bám víu ở trần gian này, thì đó là lúc chúng ta nhận ra Thiên Chúa là tất cả, là nguồn hy vọng duy nhất và vững bền nhất, niềm vui của người môn đệ Chúa Giê-su không phải là niềm vui hời hợt kiểu "xuôi chèo mát mái", mà là niềm vui đã được tôi luyện qua thập giá, niềm vui "bất chấp" hoàn cảnh, vì niềm vui ấy bắt nguồn từ sự hiện diện bất biến của Thiên Chúa.
Tin Mừng hôm nay là một lời mời gọi chúng ta rà soát lại đời sống đạo của mình, chúng ta đang sống đạo theo kiểu nào: kiểu cũ kỹ, nặng nề, xét nét của người biệt phái, hay kiểu mới mẻ, hân hoan, tin tưởng của môn đệ Chúa Giê-su? Chúng ta có đang biến việc giữ đạo thành một gánh nặng, hay chúng ta đang cảm nghiệm đạo là con đường của tình yêu và tự do? Chay tịnh là cần thiết, hy sinh là đáng quý, nhưng tất cả phải được đặt trên nền tảng của tình yêu mến đối với Chàng Rể Giê-su và tình thương xót đối với tha nhân, xin Chúa ban cho chúng ta "bầu da mới" của Chúa Thánh Thần, để chúng ta biết sống linh hoạt, biết phân định đâu là ý Chúa trong từng hoàn cảnh, và trên hết, biết sống vui tươi, lạc quan, gieo rắc niềm hy vọng cho thế giới đang âu sầu này, bởi vì chúng ta biết rằng, dù đêm có tối đến đâu, thì bình minh Phục Sinh đã rạng ngời, và Chàng Rể Giê-su vẫn đang ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.